.

Chiến thắng sông Lô thu đông 1947

Xuất bản: 08:35, Thứ Bảy, 20/10/2012, [GMT+7]
.

PTO- Bước vào thu đông 1947 trong khi giặc Pháp ráo riết chuẩn bị tấn công Việt Bắc (chúng tập trung tại đồng bằng Bắc Bộ 2 vạn quân tinh nhuệ, 800 xe cơ giới, 40 máy bay, 40 ca nô tàu chiến), thì đồng thời về phía ta toàn dân sông Lô làm vườn không nhà trống, người già trẻ con, lương thực đồ dùng được sơ tán vào rừng sâu. Đầu làng cuối ngõ rào tre gai mấy lớp, khi có báo động lập tức cánh cổng làng đóng lại, dân quân du kích gài lựu đạn, đặt hố chông bẩy gậy. Ở các bãi rộng như Phú Nham, Dưỡng Mông, Sầm Dương đều cắm cọc phòng quân nhẩy dù. Dọc sông ta đắp 3 kè lớn bằng gỗ và đá hộc ở Tiên Du, Đồn Hang và Sóc Đăng.

Lô giang - nơi ghi dấu ấn chiến công oai hùng của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947.
Lô giang - nơi ghi dấu ấn chiến công oai hùng của quân và dân ta trong chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947.  Ảnh Lê Tuấn

Ngày 4-10-1947 một cuộc họp khu ủy khu 10 tại Phan Lương do các đồng chí Bùi Quang Tạo, Song Hào, Bằng Giang điều khiển, đã quyết định những biện pháp cấp thiết cho cuộc chiến đấu trên mặt trận Sông Lô. Hơn 2 trung đoàn bộ binh của khu 10 được điều về bố trí rải rác từ Lập Thạch, Phù Ninh, Đoan Hùng lên Chiêm Hóa Tuyên Quang. 3 trung đội pháo binh bố trí cơ động ở 3 khu vực Phan Lương, Đoan Hùng và Bình Ca.

Bên cạnh bộ đội chính quy còn có lực lượng dân quân du kích phối thuộc. Ở Phú Thọ có 392 du kích thoát ly của tỉnh và mỗi xã có một trung đội, tổng số 6.000 người. Ở Vĩnh Yên mỗi huyện có một đại đội du kích thoát ly, còn lực lượng ở xã tổng số 4.000 người.

Quân Pháp tổ chức hai gọng kìm tiến lên Việt Bắc. Gọng kìm thứ nhất gồm 1 binh đoàn dù và 1 binh đoàn cơ giới đánh chiếm Bắc Cạn.

Gọng kìm thứ 2 do quan năm Com-muy-nan chỉ huy gồm một binh đoàn quân bộ, một số đại đội lính thuỷ, công binh, pháo binh dùng 40 ca nô tầu chiến ngược dòng sông Lô. Cả hai gọng kìm sẽ gặp nhau ở Đại Thi rồi càn quét lớn tại trung tâm Việt Bắc.

Sáng ngày 11-10-1947, 4 tầu chiến 3 ca nô chở tiểu đoàn thứ nhất và một số đơn vị phối thuộc của binh đoàn Com-muy-nan do quan tư Lơ-dôt chỉ huy xuất phát từ Việt Trì kéo lên Sông Lô, trên trời có 3 khu trục và 1 thuỷ phi cơ hộ tống. Giặc tới Đoan Hùng pháo ta bắn ngay, nhưng mới được 2 phát thì bị tắc đạn. Giặc ùa lên bờ. Bộ đội và du kích ta vừa đánh địch cầm cự vừa chôn dấu pháo.

Chiều ngày 12 tầu địch đến Bình Ca, pháo ta nổ được 1 phát thì ổ súng bị hóc, chúng đổ bộ lên cướp pháo và bị sa vào trận địa mìn, các chiến sĩ trên sườn núi quạt súng máy ném lựu đạn diệt một trung đội địch, buộc chúng tháo chạy xuống tầu.

Đoàn tầu thứ hai và thứ ba đều có đụng độ kịch liệt với bộ đội ta, nhưng cả hai bến đều không thiệt hại gì. Binh đoàn Com-muy-nan tập kết tại thị  xã Tuyên Quang, tiến lên Chiêm Hóa.

Ngày 23-10 Com-muy-nan cho 2 tầu LCM trọng tải 500 tấn chở quân và hàng lên tiếp viện.

Trung đội pháo binh 175 do Trung đội trưởng Nông Văn Cờ chỉ huy được lệnh đón đánh địch. Lần này ta chuẩn bị trận địa theo một chiến thuật mới: Pháo đặt gần bắn thẳng. Hai khẩu 25 ly và 75 ly đặt dưới rặng tre làng Khoan Bộ bên mép nước. Du kích dùng 2 cây chuối sơn đen lập một trận địa giả ở quả đồi phía sau để lừa địch.

1 giờ  chiều ngày 23/10 tầu giặc tới Khoan Bộ. Thấy có khói máy bay trút bom xuống trận địa giả. Đợi tàu địch đến ngang tầm súng, pháo ta gầm lên, chốc lát cả hai tầu địch bị hất sạt tầng trên. Xác lính, đồ hộp, súng đạn văng tung toé xuống sông. Giặc hoảng sợ quay mũi tàu ghé vào làng An Đạo đổ bộ. Chiều hôm đó giặc vây làng An Đạo bắt dân ra gành Dốc bắn chết 93 người. Toán lính tuần tiễu qua làng Bình Bộ lại bắn chết 8 thường dân nữa.

Nhận được điện cầu cứu ở Khoan Bộ, Com-muy-nan cho sửa soạn một đoàn tầu xuôi đón chúng. Trinh sát ta ở Tuyên Quang nắm được liền báo về bộ chỉ huy đóng ở Đoan Hùng.

Bộ đội ta được lệnh chuẩn bị trận địa suốt đêm 23-10 với cách đánh là pháo đặt gần bắn thẳng áp dụng ngay kinh nghiệm nóng hổi của Khoan Bộ. Bộ tư lệnh khu 10 chỉ định tham mưu trưởng Vũ Hiển làm chỉ huy trưởng trận đánh, phó ban pháo binh Doãn Tuế làm đốc chiến. Trung đội pháo 200 do trung đội trưởng Lê Hộ chỉ huy bố trí tại làng Ngọc Trúc, Chí Đám. Đơn vị chủ công trong trận này là khẩu đội cao pháo 75 ly đã được sửa chữa cẩn thận có 100 viên đạn do khẩu đội trưởng Vũ Trọng Dần đảm nhiệm và trung đội phó Trần Thái Quang trực tiếp chỉ huy.

Trung đội pháo 75 ở Bình Ca do Trung đội trưởng Lê Văn Canh chỉ huy được điều gấp về bố trí tại Đầu Lô làng Thọ Sơn dưới cửa sông Chẩy. Xưởng quân khí Sài Lĩnh vừa sản xuất xong 3 khẩu badôca cũng được tham gia bố trí luôn tại làng Sài Lĩnh.

Một tiểu đoàn bộ binh do tiểu đoàn trưởng Vũ Lập chỉ huy mai phục từ ngã ba sông Lô – sông Chảy đến làng Sài Lĩnh. Các trung đội dân quân của hai xã Chí Đám và Hữu Đô làm nhiệm vụ nghi binh hai bên sông, như dùng bưởi sơn đen giả làm thủy lôi thả bên phía Hữu Đô để tàu địch tránh sang phía Chí Đám, đốt ống nứa tươi cho nổ và đốt pháo cối trong thùng sắt tây để trợ oai. Dân quân du kích Bằng Luân, Thọ Sơn, Sóc Đăng và các làng xã lân cận làm nhiệm vụ tuần tra canh gác và phục vụ bộ đội. Công tác chuẩn bị trận đánh hoàn tất trước khi trời sáng.

Sáng 24-10-1947 bộ đội ta tranh thủ cơm nước và nghỉ ngơi chờ địch. Đến 12 giờ trưa xuất hiện 6 máy bay địch chao đảo trên bầu trời Đoan Hùng yểm hộ cho 5 chiếc tầu lững thững xuôi.

Tầu giặc đến trước miệng súng, cách 300m, pháo ta gầm lên. Chiếc LCM bị 4 phát tống trúng thân nước tràn vào chìm nghỉm. Chiếc LCI bị 6 phát buồng chứa xăng nổ tung cháy rực trời. Binh lính địch nhảy ào xuống sông bơi vào làng Hữu Đô. Còn 3 chiếc thì một chiếc quay chạy vọt lên Tuyên Quang, 2 chiếc bị thương chết máy trôi bồng bềnh trên sông. Lúc này khẩu 75 ly ở Đầu Lô phải bắn sang dập ổ súng 12 ly 7 địch đặt ở đình làng Hữu Đô bắn sang trận địa ta. Khẩu cao pháo 75 ly nặng 1 tấn khó di chuyển đuổi theo tầu địch, đã ngóc nòng lên trời bắn máy bay. Đạn pháo trúng chiếc thuỷ phi cơ Ca-ta-ni-la, nó lao về rơi tại Tuyên Quang. Khẩu 75 ly Đầu Lô diệt xong ổ 12 ly 7 thì trời tối không nhìn thấy mục tiêu nữa.

Đêm 24-10 và tiếp mấy ngày sau, ta mò được ở hai tầu giặc 1 khẩu pháo 75 ly, 10 súng cối 81 ly và 60 ly, 4 khẩu trọng liên, hàng chục trung liên, 200 súng trường và tiểu liên, hàng tấn đạn, mìn và 1 chiếc xe díp. Trận này giặc chết khoảng 350 tên.


Qua mấy trận đòn khủng khiếp, bộ chỉ huy khu 10 đoán địch sẽ phải bỏ Chiêm Hoá chạy về Tuyên Quang. Do đó quân ta được lệnh khẩn trương từ Đoan Hùng vượt 100 cây số lên bố trí ở Khe Lau cửa sông Gâm đổ ra sông Lô.
Ngày 9-11-1947 ta vừa xây dựng xong trận địa thì ngày 10-11 ba tầu giặc lật đật tháo xuôi theo dòng nước, 2 giờ chiều chúng tới Khe Lau. Trận đánh xảy ra chớp nhoáng, sau mấy loạt đạn dữ dội của ta, cả 3 chiếc tàu và 200 quân của tiểu đoàn Pơ-ti không kịp trở tay đã bị chìm ngập trong bể lửa.

Quân giặc hoang mang đến cực độ, Com-muy-nan cố gắng tập hợp quân số về thị xã Tuyên Quang, đêm 21-11 bí mật rút xuôi.

Bộ tổng chỉ huy ta phán đoán địch sẽ rút theo 2 đường: Đường thủy là sông Lô và đường bộ là đường Bình Ca, Sơn Dương về Lập Thạch. Do đó đã chỉ thị cho bộ chỉ huy khu 10 điều quân đón đánh.

Đúng như dự kiến. Toán quân bộ đi đường Sơn Dương bị phục kích 2 trận diệt ngót 100 tên. Toán quân thủy đi đến Lã Hoàng chiếc tầu quan trọng nhất bị trúng thuỷ lôi, gần 100 lính và toàn bộ ban tham mưu, nhân viên kỹ thuật bị tiêu diệt. Sau khi vượt qua vách núi Bà Nghi, bên kia là núi Đồn Hang, số tàu địch còn lại dồn quân lên bờ càn quét đốt phá hai bên bờ sông từ đó trở xuôi đến Việt Trì.

Đoàn tầu của giặc về tới  Phan Lương gặp bộ đội trung đoàn Ký Con chặn đánh bắn một chiếc tầu trọng thương. Trong khi đó một đơn vị của trung đoàn phối hợp với du kích Bạch Lưu mai phục sẵn trên núi Long Động chờ toán quân đi bộ của địch, khi giáp chiến bọn này tháo chạy xuôi không dám chống cự.

Để đỡ đòn cho Com-muy-nan, một cánh quân hỗn hợp Pháp ngụỵ từ Hòa Bình đánh lên tây Nam Phú Thọ. Bọn này bị bộ đội và du kích mai phục ở Tu Vũ diệt 100 tên, đến Thu Cúc lại bị phục kích diệt 150 tên nữa. Sau đó 200 lính Thái hoang mang chạy sang hàng ta.

Cũng trong thời gian này Pháp cho một toán quân từ Việt Trì ngược bờ tả ngạn sông Lô đi đón Com-muy-nan.

Toán này đến Sơn Đông (Lập Thạch) gặp bộ đội và du kích phục sẵn, hai bên đánh nhau kịch liệt, chúng bị diệt 30 tên. Ngày 19/12/1947 tàn quân Pháp mới về đến Việt Trì.

Tổng kết chiến dịch Sông Lô quân Pháp bị diệt 900 tên, bị bắt sống 290 tên. 6 chiếc tầu chiến và ca nô bị bắn chìm, hàng chục chiếc khác bị thương, 1 máy bay bị hạ. Bộ đội ta thu được rất nhiều chiến lợi phẩm gồm súng đạn các cỡ, mìn, lựu đạn và quân trang quân dụng.

Chiến thắng Sông Lô được đánh giá là một cột mốc quân sự quan trọng. Về phía địch, chiến lược của chúng thụt lùi rõ rệt, từ tiến công tìm diệt co về đồng bằng đóng chốt trong các đồn bốt, đánh lấn ra theo kiểu vết dầu loang. Còn ta thì chuyển sang một giai đoạn mới, chủ động tiêu hao địch, tích cực chuẩn bị tổng phản công.

Vũ Kim Biên (Sưu tầm - biên soạn)

.
.
.
.
.