.

Trận đánh lịch sử và những kỷ niệm không thể nào quên

Xuất bản: 08:23, Thứ Ba, 18/03/2014, [GMT+7]
.

PTO- Tôi vinh dự được đứng trong đội ngũ của Đại đoàn Quân Tiên phong, đơn vị thành lập đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (28-8-1949), được trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhân kỷ niệm 60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi xin được điểm lại diễn biến chính của chiến dịch và những kỷ niệm khó quên trong đời lính của mình và đồng đội. Ngày 16-12-1953 Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Lực lượng tham gia gồm các Sư đoàn 308, 312, 316, 304, đại đoàn công pháo, cao xạ, bộ đội địa phương, dân công từ Thanh Hóa - Nho Quan Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu.

1
Đồi A1 - nơi cách đây gần 60 năm, đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt giữa bộ đội ta và thực dân Pháp.
Ảnh: Quốc Hội

Đầu tháng 12-1953 Sư đoàn 308 rời Thái Nguyên lên Tây Bắc, cuộc hành quân dài hơn 400km được Bác Hồ gửi thư động viên "... Chiến dịch này rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước và cả đối với quốc tế, vì vậy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tập trung hoàn thành cho kỳ được...". Đầu tháng 1-1954 các Trung đoàn của Sư đoàn 308 đã vào đúng vị trí tập kết theo kế hoạch và bắt tay vào làm đường. Sau gần một tháng làm đường Sư đoàn làm công tác chuẩn bị chiến đấu.

Khoảng 17 giờ ngày 26-1-1954 Trung đoàn Thủ đô đã dàn đội hình tấn công vào sân bay Mường Thanh và phát triển vào trung tâm. Đại đội 263 của tôi có nhiệm vụ tiêu diệt trận địa pháo sát sân bay. Một mệnh lệnh bất ngờ, toàn đơn vị lui về vị trí cũ, chờ lệnh mới. Nhiều thắc mắc râm ran "tại sao lại không đánh?" không ai giải thích được. Quân lệnh như sơn, chấp hành triệt để. Khoảng 21 giờ có lệnh hành quân, mỗi người chỉ có một nắm cơm, 2 lạng gạo rang, gạo của đơn vị  chỉ còn không đủ một ngày ăn, không ai lo đói mà chỉ sợ không được tham gia đánh vào Mường Thanh. Mỗi người đều gài sau ba lô một mẩu gỗ mục (ban đêm phát sáng) để bám theo nhau mà đi. Tháng chạp trời tối đen như mực, leo núi đá, vượt núi Hồng Lếch hướng sang phía Tây. Suốt đêm và ngày hôm sau mới biết là đơn vị hành quân sang Lào. Sau hai ngày hành quân trên đất Lào thì nhận được tin địch ở Mường Khoa đã bỏ chạy từ ngày hôm trước. Trung đoàn thủ đô đi đầu đội hình sư đoàn, lệnh đuổi địch, cán bộ chiến sĩ đều phấn chấn quyết tâm đuổi kịp và đánh địch, gặp địch một người cũng đánh, không phân biệt đơn  vị, ghép nhau lại mà đánh. Ba ngày đuổi địch, đói và mệt, không gặp địch lại càng mệt và chán hơn; sang đến trưa ngày thứ tư trinh sát phát hiện có địch... lệnh tấn công bất ngờ chính diện và cả bên sườn, địch hoảng loạn, một số tên chết, bắt sống hơn 40 tên lính Âu phi thuộc Tiểu đoàn 2 Ta Lo Trung đoàn Lê Dương số 2, chạy trước nó là Tiểu đoàn 1. Tiếp tục đuổi trong khí thế thắng trận đầu, trên đường truy đuổi thỉnh thoảng lại bắt được một tốp lính địch trong trạng thái đói, mệt và hoang mang. Đến ngày thứ 6 thì gặp hỏa lực pháo binh, trọng liên bắn dữ dội mới biết là quân ở Mường Sài bắn chặn. Lệnh của Trung đoàn triển khai đội hình bao vây, một ngày đào công sự, bao vây và đề phòng địch phản kích. Mải đuổi đánh địch không ai biết là đã đến Tết Nguyên đán, nhận được thơ chúc tết của Bác Hồ từ Tiểu đoàn gửi xuống mới biết là 30 tết. Chúng tôi đón xuân và đọc thơ chúc tết của Bác Hồ trên chiến hào bao vây tập đoàn cứ điểm Mường Sài cách Luông Pha Băng 20km.

Món quà mừng xuân Giáp Ngọ năm 1954 của chúng tôi thật có ý nghĩa. Phòng tuyến sông Nậm Hu dài 200km trên đất Lào đã bị đập tan, tiêu diệt và làm tan rã Trung đoàn 2 Lê Dương, hậu phương chiến dịch Điện Biên Phủ mở rộng tạo thế vững chắc khi ta tấn công Điện Biên Phủ, địch không còn khả năng ứng cứu. Một cú nghi binh tuyệt vời, địch tưởng ta bỏ cuộc, toàn Sư đoàn 308 bí mật hành quân về Điện Biên Phủ, trung đoàn thủ đô lại về vị trí cũ (núi Hồng Lếch phía Tây Mường Thanh) và bắt đầu đào chiến hào vây lấn để đánh chắc thắng, cán bộ chiến sĩ rất phấn khởi được tham gia đánh trận Điện Biên Phủ và hiểu rõ tại sao ngừng tấn công ngày 26-1-1954, ai ai cũng tấm tắc khen Đại tướng mình thánh thật, giá như đánh nhanh chưa chắc đã thắng, mà mình chưa chắc còn sống...

Ngày 13-3-1954 Sư đoàn 312 tiêu diệt Him Lam, ngày 15-3 Trung đoàn 88 của Sư đoàn 308 cùng Trung đoàn 165 của Sư đoàn 312 tiêu diệt địch ở Đồi Độc lập, ngày 16-3 Tiểu đoàn Ngụy Thái ở Bản Kéo ra hàng do bị Trung đoàn 36/f.308 vây ép. Nức lòng toàn mặt trận, mở màn chiến dịch ta đã mở toang cánh cửa khu bắc Mường Thanh, pháo cao xạ của ta đã lấn vào cánh đồng Mường Thanh bắn cháy 12 máy bay uy hiếp sân bay Mường Thanh. Trên tất cả các hướng từ trên núi giao thông hào, chiến hào bò dần vào lòng chảo, các nhánh chiến hào nối liền các đơn vị với nhau tạo thành trận địa liên hoàn. Địch dùng xe tăng, máy bay đánh liên tục nhưng không cản được, khổ nhất là những ngày mưa, vừa đào, vừa tát nước vét bùn, mọi sinh hoạt đều ở dưới giao thông hào, nhưng vẫn có cơm canh nóng cho bộ đội ăn, sinh hoạt chi ủy, chi bộ, tổ đảng rất chặt chẽ, văn công sư đoàn ra tận chiến hào hát cho bộ đội nghe... đã động viên kịp thời, tạo khí thế thi đua sôi nổi, mức lao động tăng từ 8m3 lên 10m3 đất đào/ngày, cuốc xẻng mòn vẹt đến 1/3, chân tay phồng rộp, lở loét, chỉ mong được tấn công vào Mường Thanh. Các hướng, các mũi chiến hào đã hình thành một trận đồ bát quái, là một kỳ tích, vành đai bao vây kép dần từng ngày. Không thể sốt ruột, ai cũng hiểu rõ ý nghĩa xây dựng trận địa vây lấn để đánh chắc thắng, giảm bớt thương vong. Quân ta vào càng gần, phi pháo địch mất dần tác dụng, máy bay không dám bổ nhào thả bom từ trên cao, dù hàng địch thả trên cao gió thổi bay tứ tung, rơi cả vào trận địa quân ta, những dù hàng rơi vào rào địch không dám ra lấy vì sợ bị ta bắn tỉa, ta thu được nhiều đạn dược, bánh mỳ, thịt hộp và nước uống... cuối tháng 3 đầu tháng 4 Điện Biên Phủ thực sự trở thành địa ngục đối với quân Pháp.

Sang đợt 2 của chiến dịch, Trung đoàn thủ đô từ hướng tây chuyển sang hướng đông, cùng với Sư đoàn 316, 312 đánh các cứ điểm Đồi A1, C1, E1, D1, D2. Trung đoàn thủ đô thay Trung đoàn 174/f.316 đánh tiếp Đồi A1, đây là một cứ điểm mạnh nhất của Mường Thanh, được mệnh  danh là chiếc chìa khóa sống, nếu mất A1 thì trung tâm cũng bị vỡ, nên được Đờ Cát bố trí rất mạnh, nó được xây dựng theo chiến thuật phòng thủ vòng tròn nhiều tầng công sự, bố trí  hỏa lực dày đặc quét dọc các chiến hào, từ cửa mở vào do Tiểu đoàn Ma Rốc số 4 chiếm giữ, pháo binh từ Hồng Cúm, Mường Thanh chi viện, máy bay từng tốp thay nhau quần suốt ngày, một lực lượng cơ động có xe tăng đi cùng từ trung tâm sẵn sàng ứng cứu. Đêm 30-3 Sư đoàn 312, 316 đồng loạt tấn công chiếm E1, D1, D2 và một nửa A1, C1, địch càng điên cuồng trong tuyệt vọng. Đêm 31-3 Trung đoàn thủ đô thay Trung đoàn 174/f.316 đánh tiếp A1, thì ngày hôm đó Đờ Cát đưa tiểu đoàn dù số 6 và đại đội Lê Dương thứ nhất lên thay tiểu đoàn Ma Rốc để quyết giữ A1. Tiểu đoàn 18 trên hướng chủ yếu của Trung đoàn theo hướng của Trung đoàn 174/f.316 mở đêm trước, địch đã làm lại hàng rào, khoảng 11 giờ đêm tiểu đoàn và các mũi của trung đoàn đã chiếm được Yên ngựa (nửa đồn phía dưới của A1) quân địch  chạy dồn vào lô cốt và hầm ngầm tầng trên bỏ lại nhiều xác chết trên chiến hào. Pháo địch từ Hồng Cúm, Mường Thanh bắn chùm lên A1, khoảng 2 giờ sáng ngày 1-4 địch phản kích bằng bộ binh và xe tăng từ Trung tâm, Đại đội 216 của Tiểu đoàn từ cánh trái đánh chặn, một xe tăng và bộ binh địch bò lên đỉnh A1, xương mù dày đặc không nhìn rõ, chỉ nghe tiếng xe tăng và ánh lửa của đạn bắn. Trung đội trưởng hỏa lực Nguyễn Văn Giá tập trung 2 khẩu ĐKZ và 2 khẩu BaDoKa đồng loạt bắn, xe tăng và pháo địch câm tịt, cũng chẳng biết khẩu nào bắn chúng. Bẻ gãy đợt phản kích mạnh của địch, bọn ở dưới chân đồi A1 bỏ chạy về Trung tâm. Cả ngày 1-4 hàng chục lần địch phản kích từ lô cốt, hầm ngầm ra, máy bay thả bom, đạn pháo địch chùm lên A1, pháo ta cũng bắn mạnh lên đỉnh Đồi A1 nhưng địch không đẩy được quân ta khỏi Yên ngựa. Cuộc chiến đấu giành giật 1 ngày 2 đêm rất ác liệt, quân số chiến đấu giảm dần nhưng ta vẫn giữ vững trận địa. Không thể tiếp cận để đánh vào lô cốt trên đỉnh A1, hỏa lực địch bắn dọc theo các chiến hào nối liền lô cốt với hầm  ngầm. Đại đội 259 của Tiểu đoàn vào thay Đại đội 263, Tiểu đoàn 79 từ phía Tây sang tăng cường tổ chức nhiều đợt đột kích đánh vào lô cốt, hầm ngầm nhưng đều không có kết quả. Không chiếm được hoàn toàn Đồi A1 nhưng Trung đoàn đã bám chắc được một nửa Đồi A1, làm cho địch hết sức lúng túng, phần lớn  các cứ điểm đã lọt vào quân ta, sân bay Mường Thanh cái dạ dày của Điện Biên Phủ bị cắt hoàn toàn, các Sư đoàn 316, 312, 304 và các Trung đoàn 36, 88 của sư đoàn 308 đã bám sát các cứ điểm vòng ngoài của trung tâm Mường Thanh.

Trung đoàn 174/f.316 vào thay Trung đoàn thủ đô. Trước khi bước vào đợt 3 của chiến dịch theo chỉ thị của mặt trận tổ chức một đợt sinh hoạt tư tưởng nêu gương chiến đấu dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ, rút kinh nghiệm đánh A1 đồng thời phê phán tư tưởng hữu khuynh, dao động, tự phê bình và phê bình trong cấp ủy chi bộ... Quyết tâm được củng cố, bổ sung cán bộ, tổ chức lực lượng gọn nhẹ chuẩn bị cho đợt 3 của chiến dịch. Cái vỏ ngoài của trung tâm đã bị bóc dần, thu hẹp chỉ còn khoảng 1km2.

Tiểu đoàn 18 và 79 của Trung đoàn thủ đô chuẩn bị đánh Nà Noọng (cao điểm 310) cách Sở chỉ huy Đờ Cát khoảng 300m, công sự đã dũi và sơn pháo 75 đã được đưa vào trong hàng rào.

Đợt 3 của chiến dịch bắt đầu: Đúng 21h ngày 6-5 một tiếng nổ long trời của một tấn bộc phá trên đỉnh A1 cũng là lệnh tổng tấn công đợt 3 chiến dịch, đúng 22h Trung đoàn thủ đô tiêu diệt cứ điểm Nà Noọng. Na Va đã chuẩn bị sẵn kế hoạch định mệnh cho Đờ Cát phá vòng vây chạy sang Lào nhưng đã quá muộn. Sáng 7-5 các hướng các mũi ồ ạt tràn vào đè bẹp ý chí kháng cự của Tướng Đờ Cát, cả Bộ tham mưu giơ cờ trắng đầu hàng không dám tử thủ. Tại Hồng Cúm 2.000 quân địch  được lệnh bỏ căn cứ chạy sang Lào cũng bị Sư đoàn 304 bắt sống. Chiều 7-5 Điện Biên Phủ hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Đây cũng là một chiến công hiển hách trong lịch sử chống giặc ngoại sâm của dân tộc Việt Nam. Sức mạnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh đè bẹp cái sức mạnh hiện đại của đế quốc Pháp và Mỹ.

Vinh dự là một chiến sĩ quân đội Quân Tiên phong, được tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ từ đầu đến cuối, chúng tôi lại được nhận vinh dự lớn bất ngờ về tiếp quản thủ đô. Ngày 19-9-1954 các cán bộ của Sư đoàn trên đường về tiếp quản thủ đô đã tập trung tại Đền Giếng Đền Hùng Phú Thọ để được gặp Bác Hồ. Bác khen ngợi cán bộ chiến sĩ Sư đoàn và căn dặn "Tiếp quản thủ đô là một nhiệm vụ rất có ý nghĩa đối với đất nước ta và đối với quốc tế. Trung ương Đảng và Bác tin tưởng các chú nhất định thắng lợi..." Cuối cùng Bác nói:

"Các Vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Thiếu tướng Nguyễn Hiền
 

.
.
.
.
.