Logo of Phú Thọ Logo of Phú Thọ

Nhân lực khơi… nội lực

Kỳ III: Giải bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Thứ tư, 09/09/2020, 08:06:20
Print + | - Font Size: A
Kỳ III: Giải bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Kỳ III: Giải bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

A Font Size: - | +

tri-thuc-tre-1599613335
Đội ngũ trí thức trẻ Trung tâm Y tế huyện Đoan Hùng tích cực học tập, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. 

>>> Kỳ II: “Đất gọi chim về”
>>> Kỳ I: Đổi mới tư duy, chú trọng nguồn nhân lực


PTĐT - Qua số liệu thống kê cho thấy, hiện nay Phú Thọ đang trong thời kỳ dân số vàng với nguồn cung lao động dồi dào, ổn định; tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề đạt 70%; năng suất lao động bằng 76% mức trung bình của cả nước, đứng thứ 4 trong khu vực Trung du miền núi Bắc Bộ. Tuy nhiên, dù lao động trong tỉnh cần cù, chịu khó nhưng thể lực còn yếu, ý thức kỷ luật lao động và khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa còn hạn chế. Vì vậy, việc tìm lời giải cho bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần khơi nội lực đã trở thành nhu cầu tất yếu và bức thiết.

Bức tranh đa sắc màu về nguồn nhân lực

Với dân số trên địa bàn tỉnh 1.435 nghìn người, trong đó lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 833,7 nghìn người, chiếm 58,1% dân số; tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế 817,6 nghìn người, chiếm 57% dân số; lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế tăng khoảng 1,2- 1,4%/năm khiến cho bức tranh về nguồn nhân lực của tỉnh đang có nhiều mảng màu tươi sáng. Khi tìm hiểu về những dữ liệu này, chúng tôi được lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết, chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây (2016- 2020), nguồn nhân lực của tỉnh có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 1,6%/năm và tăng dần qua các năm; cơ cấu lao động từng bước thay đổi theo hướng phù hợp, có sự chuyển đổi mạnh mẽ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, góp phần nâng chỉ số phát triển chung của tỉnh lên vị trí thứ 2 trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực có độ tuổi trẻ từ 20 đến 44 chiếm 66,5% trong các nhóm tuổi tham gia lao động; chất lượng nguồn nhân lực phát triển tương đối đồng bộ trên cả 3 yếu tố cơ bản là thể lực, kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức lối sống; năng suất lao động có xu hướng ngày càng tăng, tổng số nhân lực được đào tạo mới bình quân mỗi năm 47,7 nghìn người; tỷ lệ lao động sau đào tạo nghề có việc làm đạt 85%, số lao động được tạo việc làm tăng thêm 79,1 nghìn người, XKLĐ duy trì mức ổn định khoảng 3 nghìn người/năm. Đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp khá đã được thu hút, phát huy hiệu quả lao động cao ở một số ngành, lĩnh vực như y tế, giáo dục, CNTT, dịch vụ và XKLĐ. Đội ngũ doanh nhân ngày càng tăng về số lượng và cải thiện về kiến thức, kỹ năng kinh doanh, từng bước tiếp cận trình độ quốc tế.

Nếu nhìn theo từng lát cắt, không khó để nhận thấy, nhân lực trong hệ thống chính trị không ngừng được nâng lên về chất lượng, cơ cấu hợp lý hơn cả về độ tuổi, giới tính, dân tộc và ngành nghề, lĩnh vực. Đội ngũ CB,CC,VC có tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật cao, có kiến thức, trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn, sẵn sàng tiếp cận với công nghệ mới, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nhân lực trong khối doanh nghiệp có trình độ đại học, cao đẳng ngày càng tăng, nhận thức của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân, người lao động trong các thành phần kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. Nhân lực trong khu vực nông thôn với lực lượng lao động khá dồi dào và có nhiều tiềm năng, sau đào tạo đã áp dụng được kiến thức, kỹ năng nghề vào sản xuất, mở rộng kinh doanh. Khu vực kinh tế tập thể, HTX có chuyển biến tích cực về quy mô, công nghệ, thị trường, tạo việc làm cho khoảng 15.000 lao động; trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất nông, lâm, thủy sản từng bước được nâng cao, chất lượng cuộc sống người dân nông thôn được cải thiện, góp phần giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới.

Tuy nhiên, bên cạnh những mảng màu tươi sáng, bức tranh về nguồn nhân lực cũng bộc lộ những tín hiệu... không vui do về cơ bản, thể chất người lao động còn thấp; tinh thần trách nhiệm trong công việc, đạo đức nghề nghiệp, văn hóa doanh nghiệp, ý thức tuân thủ kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao; còn thiếu hụt lao động có tay nghề cao, chất lượng lao động chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Hơn nữa, nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền, một bộ phận cán bộ, đảng viên và người lao động về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực còn hạn chế; hệ thống cung - cầu thị trường lao động chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; việc liên kết đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động theo đơn đặt hàng chưa hiệu quả...Những điều này lý giải vì sao, đã đến lúc bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cần tìm ra lời giải?


anh-bai-tri-thuc-tre-1599613347
Để đảm bảo công tác đào tạo chuyên môn, Trường Đại học Hùng Vương luôn tổ chức cho sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng vào thực tiễn, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

Hướng tới nguồn nhân lực chất lượng cao cho yêu cầu phát triển

Trao đổi với các chuyên gia, nhà kinh tế, nhà quản lý lao động, chúng tôi được biết, nhìn về tương lai không xa, ngay trong giai đoạn 2021-2025, kinh tế trong nước và trong tỉnh dự báo có nhiều thời cơ, thách thức đan xen. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 lan rộng, việc tham gia Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và FTA Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) sẽ mang lại nhiều cơ hội phát triển cho kinh tế Việt Nam thông qua việc mở rộng xuất khẩu, đầu tư, ứng dụng KHCN. Việc tham gia các Hiệp định có tác động tích cực tới lao động, trong đó có những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày- là những ngành dự báo sẽ được hưởng lợi nhiều nhất. Bên cạnh đó, tác động tích cực từ các Hiệp định này có thể đến từ việc tạo sức ép cải thiện thể chế, môi trường kinh doanh, điều này được kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động tích cực trong trung và dài hạn.

Vì vậy, theo suy nghĩ của chúng tôi, xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phải được coi là yêu cầu cấp thiết, là một trong những giải pháp chiến lược, mang tính đột phá để tăng năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển nhân lực phải có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển nhân tài, lấy giáo dục phổ thông, đào tạo nghề làm nền tảng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, CC,VC để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững. Để đạt được mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong giai đoạn 2021-2025 với tỷ lệ lao động qua đào tạo và truyền nghề 72%; cơ cấu lao động: Nông lâm nghiệp 47%, công nghiệp xây dựng 27%, dịch vụ 26%; số lao động có việc làm tăng thêm 15.000- 16.000 người/năm; XKLĐ 2.700 người/năm; bình quân mỗi năm đào tạo 46,3 nghìn người, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ CB,CC, doanh nhân, công nhân kỹ thuật 25,6 nghìn lượt người... cần phải thực hiện nhiều giải pháp căn cơ, đồng bộ.

Chúng tôi cho rằng, trước hết, cần tăng cường quản lý Nhà nước về nguồn nhân lực, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong công tác theo dõi, dự báo, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống thông tin cung - cầu lao động trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo cân đối cung - cầu lao động để phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, đổi mới công tác đánh giá, phân loại CB,CC,VC; cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ này ở các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực; đổi mới công tác tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển CB,CC,VC; tiếp tục thu hút sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng về làm việc tại tỉnh. 

Đổi mới hệ thống, sắp xếp lại mạng lưới giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp ở cả quy mô đào tạo, cơ cấu ngành nghề gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo, giáo dục nghề nghiệp, có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, xã hội đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, thu hút các nguồn lực quốc tế thông qua hợp tác và liên kết. Ngoài ra, tiếp tục giao quyền tự chủ từng phần cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và du lịch, thông tin - truyền thông... theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, đồng thời cải thiện và nâng cao thể lực, kỹ năng nhân lực, tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, nâng cao thể lực cho toàn dân, cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn lao động, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng mềm, tác phong, kỷ luật cho người lao động...

Trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, cần tiếp tục chú trọng đội ngũ trí thức trẻ. Luận bàn về vấn đề này, đồng chí Nguyễn Tường Thứ - TUV, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tổ chức Tỉnh ủy nêu quan điểm, để tiếp tục thu hút, phát triển đội ngũ trí thức trẻ, bên cạnh những chế độ ưu đãi, tạo điều kiện chung của tỉnh, các địa phương, các ngành cũng có chính sách quan tâm cụ thể nhằm đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn kế cận để trí thức yên tâm công tác, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi khó khăn; công tác quản lý, bố trí, điều động, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường, năng lực, chuyên môn của mỗi người...

1-1599613591

Nhóm PV Chính trị - Xã hội 

Ý kiến bạn đọc ( 0 )
Bình luận bài viết
CAPTCHA Image security
TIN LIÊN QUAN
rss - Trở về đầu trang