Logo of Phú Thọ Logo of Phú Thọ

Một cõi tâm linh

Thứ hai, 07/08/2017, 07:36:02
Print + | - Font Size: A
Một cõi tâm linh

Một cõi tâm linh

A Font Size: - | +

PTo- Hùng Vương, được lịch sử và người đời coi ông là ông Tổ của dân Việt - Nhận thức này như một mặc định, đã là người Việt Nam thì phải tin như vậy, lòng tin này đứng trên cả thực tế lịch sử và khoa học - Hùng Vương đã vượt qua biết bao thác ghềnh của biến động xã hội để cùng người Việt dựng nước và giữ nước.

Trên dòng chảy của lịch sử và xã hội, tộc người chủ thể đi đến đâu thì Tổ Hùng Vương theo tới đó. Ngài như một thế lực vừa gần vừa xa để trở thành một bệ đỡ vừa như hữu hình, vừa như siêu hình dẫn lối chúng ta. Hùng Vương như ngọn đèn tâm linh, một chân lý tuyệt đối, gọi ta hướng về cội để rồi từ đây tỏa ra một lời kêu gọi hội tụ đoàn kết toàn dân mỗi khi đất nước lâm nguy. Tinh thần đó không cho phép bất kể người Việt có lương tri nào được quyền bước lệch khỏi con đường mòn muôn đời muôn thuở này. Nhưng, ở lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể thì Hùng Vương phải chăng đã đi từ dạng Anh Hùng Văn hóa đã và vẫn đang từng bước chuyển hóa, hội nhập vào lĩnh vực Anh Hùng Lịch sử. Ngài là vị Thánh tối thượng của đạo thờ Tổ tiên, ông bà của người Việt, cho nên đền thờ của Ngài có ở khắp nơi. Tuy nhiên, về hình thức chúng ta chưa tìm được một kiến trúc nào có đặc điểm thờ cúng riêng biệt so với các đền thờ thần linh khác, vì thế, Đền Hùng ở núi Hy Cương và một số đền điện của các Thánh, Thần liên quan ở đây là đáng chú ý nhất.

Ngược dòng lịch sử, chỉ cần suy nghĩ sâu hơn một chút, hầu như nhiều người có thể biết rằng, buổi khởi nguyên của người Việt phương Nam này có lẽ thuộc hệ Môn Khơ Me, còn ở thượng nguồn sông Hồng (một điểm tụ hội là vùng đất thuộc Lào Cai, nhất là Yên Bái). Lúc đó, họ dựa vào rừng để sống, chủ yếu bằng phương thức hái lượm - Vai trò chính yếu của người phụ nữ là một nguyên nhân chính để người đương thời, bằng tư duy liên tưởng mênh mông ngang tầm trời đất, đã định hình ra bà Chúa Rừng, một vị thần tối thượng mang tư cách bà mẹ khởi nguyên, cũng là bà mẹ thiêng liêng. Nhưng không thể sống dựa vào rừng mãi để tồn tại và phát triển, nên xu hướng theo dòng sông tiến xuống thấp hơn đã là một yêu cầu sống còn. Quá trình đó cũng đồng nhất với việc chuyển dần sang nền kinh tế nông nghiệp. Từ đây một đại diện, biểu tượng thiêng liêng mới đã hình thành, đó là bà mẹ xứ sở Âu Cơ. Trong mô hình chung về bà mẹ xứ sở của nhân loại thường là bao giờ bà cũng "kết hôn" với người không cùng "thành phần" với mình. Ở đây, Âu Cơ kết duyên cùng Lạc Long Quân (cư dân chài lưới thuộc hệ sông Hồng). Một trên cạn, một dưới nước, phải chăng đất - nước như một cặp phạm trù tương hỗ số một của đương thời để tổ tiên ta dựng nước. Có nghĩa là mối liên kết chặt chẽ giữa cộng đồng cư dân nghề rừng và nghề nông với cư dân đánh cá... đã được dung hội và định hình bằng cặp uyên ương thần thánh mang tính khởi nguyên của dân tộc.

 

Dâng hương, hoa, lễ vật lên Tổ Mẫu Âu Cơ.
Dâng hương, hoa, lễ vật lên Tổ Mẫu Âu Cơ.


Từ cặp uyên ương lịch sử Âu Cơ và Lạc Long Quân, đã cho phép Hùng Vương xuất thế. Một số nhà sử học và dân tộc học trước đây đã chỉ ra rằng Hùng Vương là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc, mà các vị "lang" của thời gần đây như là cái bóng mờ nhạt của các Ngài.

Sự huyền thoại hóa Vua Hùng là một tất yếu trong diễn trình lịch sử. Các Ngài cũng được "đắp da đắp thịt" để thích ứng với sự phát triển của xã hội ở các thời khác nhau với triều đình cùng cả một hệ thống quan lại đầy đủ, trong đó có cả những tên tuổi cụ thể và tản ra khắp nơi theo bước chân của người Việt. Tuy nhiên mật độ tập trung nhất vẫn là ở vùng Phú Thọ. Mở đầu cho hệ thống di tích liên quan đến Hùng Vương là đền Mẫu Âu Cơ ở Hiền Lương. Đây là một ngôi đền lớn, là một kiến trúc có nghệ thuật chạm khắc còn lại sớm nhất trong hệ thống điện Mẫu Việt Nam hiện nay. Lùi xuống khoảng giữa Hiền Lương và Phú Thọ là khu vực với đầy truyền thuyết liên quan đến Vua Hùng, như địa điểm dừng chân nghỉ trong cuộc đi săn của Vua và nhiều địa điểm liên quan khác. Các kiến trúc thờ tự mà trong đó có cả đình làng lợp mái lá và sàn ván khá cao... song tập trung nhất vẫn là ở núi Hy Cương. Tới đây, chúng ta nhận ra rằng thời đại Hùng Vương đã như một giai đoạn quá độ từ thời cổ đại sang thời văn minh hơn, lúc đó con người còn sống trong "không gian và thời gian chiêm bao" với những vẻ đẹp huyền thoại - Ở đầu thời kỳ này chúng ta chưa thấy sự dung hội các hệ tộc cơ bản để tạo thành tộc người chủ thể và hình như chỉ tới giai đoạn sau (thời kỳ đồ đồng phát triển) mới có một cuộc thiên di lớn từ Phương Bắc xuống, để người Môn-Khơ me bản địa và người Tạng Miến (thiên di tự nhiên) dung hợp với người Thái - Tày và người Đản, thuộc hệ Nam Đảo (cả hai bị thiên di ép buộc, do hậu quả của cuộc bùng nổ dân số Hán tại vùng hoàng thổ...) cùng một số tộc ít người khác nữa mà nảy sinh ra hệ Việt Mường ở đất Phú Thọ - Việt Trì này. Cuộc hội nhập chắc chắn có xung đột sắc tộc mà điển hình là cuộc chiến tranh Hùng - Thục, song phải chăng đó là một cuộc khủng hoảng lịch sử và xã hội cần thiết để phát triển. Từ đó, người Việt thuận tiện hơn trong cuộc khai phá vùng châu thổ sông Hồng. Và cũng từ sau đó họ Hồng Bàng dần dần được mang tư cách là thủy tổ của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Có lẽ trong giai đoạn đầu của thời tự chủ, đền thờ Vua Hùng đã hội về núi Hy Cương, quả núi như mang tư cách một "trục vũ trụ", đem nguồn sinh lực từ tầng trên (trời) tràn xuống trần gian cho muôn loài sinh sôi. Người Việt cũng như nhiều cư dân trên thế giới, sau khi rời núi rừng xuống vùng thấp (đồng bằng), khi nhìn lại họ thấy mây vờn đỉnh núi và trong tư duy liên tưởng họ đã coi núi là cái gạch nối giữa trời và đất, nhất là với những quả núi độc lập. Ở nước ta, núi Ba Vì đã được giới bình dân coi như một hòn núi chủ của dân tộc, ngoài ra cũng còn nhiều quả núi khác đã mang tư cách núi chủ của một vùng, chiếm lĩnh được núi chủ, ở mặt tâm linh như chiếm được uy thế tinh thần, có lẽ vì thế mà nhà Lý và Trần đã cho dựng nhiều kiến trúc chùa chiền kiêm hành cung ở trên núi, nhất là trên các quả núi sót ở vùng châu thổ. Từ quan niệm này, chúng tôi nghĩ về Hy Cương, thực ra không có chứng cứ rõ rệt nào để Vua Hùng chọn nơi này làm nơi đóng đô. Nhưng các thời sau đã thấy thế phong thủy quá đẹp của Hy Cương mà dựng đền thờ Tổ. Từ đây, theo hướng Nam là nơi hai dòng Đà - Lô hợp lưu tại ngã ba Hạc để hội dòng sinh lực vào sông Hồng mà chảy về xuôi. Cũng từ đây nhìn ra xung quanh có chín chín quả núi khác chầu về (chín là số nhiều mang tính chất phiếm chỉ, chín chín là trùng trùng điệp, rất nhiều không đếm được, có nghĩa là tất cả) tượng trưng cho muôn nơi chầu về núi Tổ. Trên đó, cũng như ở nơi khác, người xưa đã dựng nên nhiều kiến trúc tâm linh theo hệ thống hạ, trung, thượng, để kẻ hành hương đi từ bến đời, bến mê leo dần lên tiếp cận với miền đất thiêng của tổ tiên và thượng giới. Con đường quanh quanh, trước đây được xếp bằng đá hộc, tưởng chênh vênh mà vẫn rất chắc chắn, mỗi một bước đi là một bước trên dòng truyền thống. Để như được nhập vào cõi vô vi của Thiền và Lão, mà hòa vào thiên nhiên, vũ trụ.

Mở đầu cho cuộc du lịch tâm linh vào đền Hạ và chùa Thiên Quang - Từ đây tâm ta chìm vào hoài niệm. Ở đây, các kiến trúc không còn dấu tích từ thời khởi dựng, chỉ có một số hiện vật là đáng quan tâm, như: Mảnh bia vỡ được xếp vào nghệ thuật mang phong cách Mạc (thế kỷ XVI). Sau đó, cố giáo sư Trần Quốc Vượng cũng đã xác định niên đại đó qua lời văn ghi trên bia. Ngoài ra, trong chùa còn một vài pho tượng Phật giáo mang nghệ thuật có phong cách của thời Lê Trung Hưng (Thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII). Con đường mòn tâm tưởng đưa chúng ta tiếp cận với đền Trung, đền Thượng. Đứng trước ban thờ Phật, Thánh, mỗi người chúng ta như cảm thấy một phút thăng hoa để tự rời bỏ cái nhân ngã chủ quan mà nhập về với cái đại ngã trường tồn, rồi như được hòa vào trong cái bao la của tâm linh, của bản thể vũ trụ (vừa bao la vừa thiêng liêng). Mặt nào đó, đối với tín đồ Việt, ngôi điện thờ Vua Hùng được coi như đã chứa đựng một giá trị biểu tượng vô bờ. Như vậy, dưới góc độ một giả thiết,  chúng ta tạm hiểu: Trong một chừng mực nào đó, chúng ta vẫn nhận ra các kiến trúc này như muốn hòa vào tự nhiên và quan trọng hơn là chúng như một biểu hiện về tam tầng của Vũ trụ, với mái như tầng trời; thân là nơi con người và các vị Vua Tổ tiếp cận qua các cuộc hành lễ. Tầng dưới gắn với nền gốc của thế giới âm (đất) trong thể đối đãi. Đứng trong kiến trúc này người ta như đứng trong dòng chảy sinh lực thông tam giới, trong sự nâng đỡ của tổ tiên, khiến cho có một cảm giác khỏe khoắn cả về tinh thần lẫn thể xác. Đền Hùng như một trục thông tam giới, có đền Thượng - nơi để tiếp cận với Trời, có đền Hạ và nhất là có giếng Tiên (như một huyệt Đan san của quán Đạo) để thông xuống thế giới bên dưới.

Như vậy núi Hy Cương - Đền Hùng chính là một mảnh đất thiêng muôn thuở.

Trần Lâm Biền

Ý kiến bạn đọc ( 0 )
Bình luận bài viết
CAPTCHA Image security
TIN LIÊN QUAN
rss - Trở về đầu trang