Logo of Phú Thọ Logo of Phú Thọ

Từ Đại Tự  "Cao sơn cảnh hành" đến ý nghĩa hoành phi câu đối ở Đền Hùng

Chủ nhật, 07/10/2018, 00:49:59
Print + | - Font Size: A
Từ Đại Tự  "Cao sơn cảnh hành" đến ý nghĩa hoành phi câu đối ở Đền Hùng

Từ Đại Tự  "Cao sơn cảnh hành" đến ý nghĩa hoành phi câu đối ở Đền Hùng

A Font Size: - | +

img6148-1524196306

Ngay cổng chính Đền Hùng là bức đại tự “Cao sơn cảnh hành” và các câu đối.

PTĐT - Trong sâu thẳm tâm thức của mỗi người con đất Việt, Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương từ bao đời nay đã trở thành biểu tượng văn hóa tâm linh, được vun đắp qua nhiều thế hệ trở thành điểm hội tụ tinh thần đại đoàn kết của cộng đồng dân tộc. Ngay từ thang bậc đầu tiên con cháu bước lên, tại cổng chính Đền Hùng ta bắt gặp bức đại tự 4 chữ Hán lớn, đọc từ phải qua trái “Cao sơn cảnh hành”. Bốn chữ thôi mà đã thấy biết bao ý nghĩa, hàm ý sâu xa trong ấy được các bậc tiền nhân mượn lời đúc kết. 

Bốn chữ ấy vốn được lấy trong Kinh Thi bộ sách Tứ Thư Ngũ Kinh ông cha ta sử dụng trong khoa cử thời xưa và trích ra từ bài Xa Hạt, phần Tiểu Nhã được thể hiện ngay ở hai câu thơ đầu “Cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ” nghĩa là: Núi cao để ngưỡng trông, đường lớn dùng để đi và có thể dịch thơ rằng: Núi cao thì để ngưỡng trông, đường lớn là để đồng lòng dân đi. Rõ ràng lên núi cao nhìn ngắm, lên núi thì phải có đường, mà con đường lớn để đồng bào và nhân dân cùng đi, cùng theo tạo nên sự đoàn kết một lòng của toàn dân tộc, đi cùng một con đường triệu người như một leo lên đến đỉnh núi Hùng thắp cho  tiên Tổ một nén tâm nhang. Con đường tâm linh, con đường đoàn kết, đích cuối cùng con đường đưa tới là để tri ân công đức tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an, nhân khang vật thịnh. 

Bên dưới đại tự cổng chính “Cao sơn cảnh hành” là hai đôi câu đối chữ Hán được tạc theo lối Khải thư (chữ Khải) đẹp chuẩn mực mà đong đầy ý nghĩa:

Đôi câu đối ở giữa

Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà quy bản tịch
Đăng cao vọng viễn, quần phong la liệt tự nhi tôn 


Nghĩa là: Mở lối đắp nền, bốn mặt non sông về một mối
Lên cao nhìn khắp, nghìn trùng đồi núi tựa cháu con


Nơi này là đất gốc, đất cội nguồn dân tộc mà các Vua Hùng đã lựa chọn định đô trên mảnh đất sơn chầu thủy tụ, mảnh đất ấy sẽ quy tụ non sông về một mối.

Đôi câu đối bên cạnh

Đăng giả hệ hà tư, vạn cổ giang sơn đế tạo thủy
Giai tai do vượng khí, thiên niên thành quách úy thông gian


Nghĩa là: Lên đây nhớ về cội, muôn thuở giang sơn chốn này tạo dựng
Đẹp thay nhờ vượng khí, nghìn năm thành quách cây cỏ tốt tươi  


img6148-copy-1524196436

Câu đối ở đền Trung.

Ngay từ cổng đền chính đã như một thông điệp nhắc nhở con cháu muôn đời khi về với Đền Hùng lên đến đây là sẽ biết và nhớ đây là cội nguồn dân tộc, bởi giang sơn này được khởi nguồn, tạo dựng từ đây. Nơi đất thiêng, đất linh cũng bởi vượng khí để nghìn năm thành quách vững bền, cây cỏ tốt tươi. Tại quần thể Di tích Quốc gia đặc biệt Đền Hùng có 7 đại tự, 43 bức hoành phi lớn nhỏ, kích thước và kiểu dáng khác nhau nhưng đều có một công thức chung là được sơn then, sơn son thếp vàng lộng lẫy, có thể là một hoành phi mặt phẳng, có thể được đục chạm công phu, bề mặt hoành phi trang trí triện gấm, vẽ lưỡng long tranh châu.

Trong lòng được bài trí 3 hoặc 4 chữ Hán lớn theo thể Khải thư hoặc Chân thư và có ý nghĩa giáo dục truyền thống nhắc nhở cháu con, thế hệ mai sau phải biết “uống nước nhớ nguồn” tri ân công đức tổ tiên như: Ẩm hà tư nguyên, Hùng Vương linh tích (vết tích linh thiêng của Vua Hùng), Hùng Vương tổ miếu (miếu tổ Hùng Vương), Nam Việt triệu tổ (Tổ đầu tiên của nước Nam), Nam quốc sơn hà (sông núi nước Nam), quyết sơ sinh dân (Dân buổi ban đầu), thiên địa chi linh (Linh thiêng của trời đất)… đi cùng với hoành phi là câu đối, đối liễn.

Tại quần thể di tích có 55 đôi câu đối, trong đó có 5 đôi câu đối Nôm, 19 đôi câu đối chạm đá hoặc khắc tường còn lại là bằng chất liệu gỗ. Cũng giống như hoành phi, dù câu đối mặt phẳng hay lòng máng, gắn tường, chạm đá hay trên gỗ đều đang truyền tải cho hậu thế những ý nghĩa to lớn mà ông cha ta đã lựa chọn gửi gắm vào đây tinh thần dân tộc, khẳng định chủ quyền từ thời các Vua Hùng đã dựng nước.

 Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
 Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, tam giang khâm đái thượng triều tôn


Nghĩa là

Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô, non sông Bách Việt đã có Tổ
Núi sáng linh thiêng, cố cung lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn


Trên đỉnh kính thiên lĩnh điện, nơi các Vua Hùng cùng các Lạc hầu Lạc tướng, triều thần tế lễ cầu cho mùa màng tốt tươi, nhân khang vật thịnh. Vẫn còn đây ngút ngàn linh khí, linh ứng tinh anh của cha rồng mẹ tiên phù trì cho bách gia trăm họ:

Thông thông úy úy, trung hữu lăng yên, tẩm yên, long phụ tiên mẫu chi tinh linh, khải hữu hậu nhân võng khuyết

Cổ cổ kim kim, kiến thử sơn dã, thủy dã, thánh tổ thần tôn chi sáng tạo, ư hy tiền vương bất vong


Nghĩa là:

Giữa cỏ cây tươi tốt có lăng, có tẩm, linh khí cha rồng mẹ tiên phù hộ đời sau không chỗ nào sót
Suốt xưa đến nay, thấy núi, thấy sông, ấy là sáng tạo của bậc thánh tổ thần tôn, ư hy tiền nhân công đức chẳng hề quên


(Câu đối đền Thượng - Đền Hùng)

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam từ buổi đầu các Vua Hùng chọn đất đóng đô, chọn được đất linh, đất đẹp có sơn chầu thủy tụ, hay ghi nhớ công đức của các Vua Hùng đã thôi thúc ông cha ta chép lại, ghi lại bằng những mỹ tự rồi tạc, chạm trên hoành phi, câu đối để giáo dục, răn dạy đồng thời lưu lại muôn đời cho con cháu mai sau. Chỉ còn đó bên lăng bên tẩm, để mỗi dịp mồng mười tháng ba con cháu mọi miền Tổ quốc về viếng Tổ, thắp nén tâm nhang thành kính và mãi khắc ghi trong mình dòng máu Lạc Hồng, giống nòi mãi nhớ mồ ông, đúng như câu đối Nôm khắc bên lăng Hùng Vương: 

Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc, giống nòi còn biết nhớ mồ ông.

Lê Công Luận

Ý kiến bạn đọc ( 0 )
Bình luận bài viết
CAPTCHA Image security
TIN LIÊN QUAN
rss - Trở về đầu trang