.

Cây chè Phú Thọ trong “Vườn” chè quốc gia

Xuất bản: 07:55, Thứ Ba, 13/03/2012, [GMT+7]
.

PTO- Cùng với Thái Nguyên, Sơn La từ lâu cây chè Phú Thọ đã có vị trí rất quan trọng không chỉ phía bắc mà trong toàn hệ thống chè Việt Nam. Từ năm 2000 đến nay với việc đưa chè trở thành một chương trình nông nghiệp trọng điểm, cây chè Phú Thọ ngày càng có vai trò  trong kinh tế.

Năm 2011, toàn tỉnh đã trồng mới, trồng lại được 461 ha chè, nâng diện tích chè của tỉnh lên 15,6 ngàn ha, chiếm hơn 12% diện tích chè cả nước.                                                                 Ảnh: PHƯƠNG THANH
Năm 2011, toàn tỉnh đã trồng mới, trồng lại được 461 ha chè, nâng diện tích chè của tỉnh lên 15,6 ngàn ha, chiếm hơn 12% diện tích chè cả nước.                Ảnh: PHƯƠNG THANH

Trong 10 năm qua, ngành chè  của cả nước đã có sự tăng trưởng đáng kể cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Năm 2010, diện tích chè cả nước đạt gần 130 ngàn ha, trong đó trên 117 ngàn ha cho thu hoạch với năng suất bình quân 73 tạ  búp tươi/ha. So với năm 2000, diện tích chè tăng 45,4%, năng suất tăng 74,6%. Năm 2011, mặc dù diện tích trồng chè cả nước giảm 2,8% so với năm 2010, song diện tích cho thu hoạch tăng 1,4% nên sản lượng tăng 6,5%, đạt 888,6 ngàn tấn. Việc áp dụng KHCN có tác động đáng kể đến việc cải tạo các giống chè cũ, cải thiện năng suất, chất lượng, bước đầu áp dụng có hiệu quả mô hình sản xuất VietGAP tại một số địa phương. Cơ cấu chè giống mới (giâm cành) đã chiếm trên 52% diện tích, dần thay thế các giống cũ lạc hậu, năng suất thấp. Trong đó, giống LDP1 chiếm 13%, LDP2 chiếm 14%; PH1 chiếm 10%... Như vậy, cây chè ngày càng có chỗ đứng vững chắc trong sản xuất nông nghiệp, nhất là ở những vùng miền núi, trung du.

Ở tỉnh ta, đến năm 2011, diện tích chè đạt 15,6 ngàn ha, trong đó có 14,7 ngàn ha cho sản phẩm, với năng suất bình quân đạt trên 81 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi 117,6 ngàn tấn. So với tình hình chung của cả nước, cây chè Phú Thọ chiếm vị trí khá quan trọng và đạt chất lượng khá hơn. Diện tích chè của tỉnh chiếm hơn 12% diện tích của cả nước, năng suất bình quân cao hơn bình quân chung cả nước (hơn 8 tạ/ha). Sản lượng búp tươi chiếm hơn 13% tổng sản lượng chè cả nước. Cùng với thành tích trong lĩnh vực nông nghiệp, Phú Thọ cũng là tỉnh có ngành công nghiệp chế biến và thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành chè khá. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đã có hơn 70 cơ sở chế biến chè công suất từ 1 tấn chè búp tươi/ngày trở lên (cả nước có trên 400 cơ sở). Tỉnh ta là địa phương sớm thu hút được đầu tư nước ngoài vào ngành chè. Ngay từ năm 1997, đã có liên doanh chè Phú Bền đầu tư vào ba huyện Thanh Ba, Hạ Hòa, Đoan Hùng. Tiếp đó những năm đầu thế kỷ 21 có thêm liên doanh chè Phú Đa đầu tư vào hai huyện Thanh Sơn, Tân Sơn. Ngoài ra, thời gian qua, chúng ta còn thu hút được nguồn vốn ODA đầu tư vào cây chè, tạo nên cơ cấu hoàn thiện từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Đến nay diện tích chè trên địa bàn chưa đủ đáp ứng công suất các nhà máy chế biến. Hàng năm các doanh nghiệp phải thu mua thêm ở địa bàn ngoài về để chế biến. Năm 2010 cả tỉnh đã chế biến được gần 60 ngàn tấn chè các loại. Năm 2011 chế biến được gần 53 ngàn tấn, dự kiến năm nay có khả năng nâng lên 53 ngàn tấn.

Hiện nay, chè là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh. Năm 2010 toàn tỉnh xuất được lượng chè hàng hóa trị giá 7,3 triệu USD, năm 2011 nâng lên trên 13 triệu USD, năm nay phấn đấu đạt 14,5-15 triệu USD.

Ngành chè đã góp phần rất quan trọng tạo việc làm, thu nhập cho người dân ở nhiều địa phương trong tỉnh. Ngoại trừ các hộ tham gia với quy mô nhỏ, mới sản xuất, còn lại hầu hết các gia đình trồng chè đều có thu nhập ổn định. Với mức thu mua từ 3.000-4.000 đồng/kg búp tươi, hàng tháng trong vụ chè các hộ có diện tích từ 1.000 đến 5.000m2 đều có thu nhập hàng chục triệu đồng, nhiều hộ trở nên giàu có nhờ cây chè. Trong những năm qua, cây chè phát triển thuận lợi ít bị tác động thiên tai, sâu bệnh, giá bán ổn định từ 2.000 đến 4.000 đồng/kg búp tươi nên cơ bản đảm bảo đời sống người dân vững chắc hơn sản xuất lương thực. Trong lĩnh vực chế biến, những năm qua, nhiều doanh nghiệp phát triển khá tốt, nhất là các doanh nghiệp FDI, đầu tư tư nhân. Hiện nay, trên địa bàn có nhiều doanh nghiệp chế biến khá tốt, có vị thế trong tỉnh và ngành chè cả nước như các nhà máy thuộc Công ty chè Phú Bền, Phú Đa, chè Tân Phong, Hải Yến, Đại Đồng… Cùng với các doanh nghiệp chế biến chè lớn, trên địa bàn còn có một số làng  thủ công chế biến chè cũng tạo ra thu nhập, sản lượng khá  được công nhận là làng nghề. Có thể khẳng định trong những cây, con được lựa chọn để xây dựng thành các chương trình kinh tế nông lâm nghiệp trọng điểm từ năm 2000 đến nay, chè là cây trồng thành công và tỏ ra bền vững nhất.

Tuy vậy trong quá trình phát triển, cây chè nói riêng, chương trình chè nói chung vẫn còn những tồn tại. Nhiều khu vực trồng chè cho năng suất thấp, chưa tạo được đột phá cải thiện đời sống nhân dân. Hiện nay, trong số gần 16 ngàn ha trên địa bàn, số diện tích do các doanh nghiệp quản lý, đầu tư (kể cả những diện tích đã khoán quản cho người dân) mới chiếm khoảng 50%, còn lại chủ yếu là chè của nông dân. Trong số đó, diện tích có năng suất cao từ 12 tấn/ha trở lên mới chiếm khoảng 30%; còn lại hầu hết năng suất vẫn ở mức trên dưới 5-7 tấn/ha. Với mức năng suất như vậy hiệu quả sản xuất không cao. Theo tính toán, với năng suất dưới 8 tấn/ha, thì thực tế mỗi tháng 1ha chỉ cho thu hoạch dưới 1 tấn. Với giá bán bình quân khoảng trên 3.000 đồng/kg, thu nhập như vậy chia cho hai lao động thu hái thì thu nhập rất khó cải thiện đời sống. Bên cạnh đó, kỹ thuật canh tác của nhiều nơi chưa tốt: Kỹ thuật đốn, hái, bón phân, nhất là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy trình, dẫn đến chất lượng chè kém khó đạt tiêu chuẩn chế biến chè xuất khẩu.

Hiện nay trên địa bàn có quá nhiều cơ sở chế biến chè. Riêng những cơ sở có công suất từ 1 tấn chè búp tươi/ngày trở lên đã có gần 70 cơ sở, còn cơ sở sao sấy thủ công lên tới hàng trăm. Việc có nhiều cơ sở chế biến sẽ tạo thuận lợi cho nông dân trong tiêu thụ sản phẩm, nhưng lại bất lợi về việc quản lý tiêu chuẩn, nhất là vệ sinh thực phẩm. Qua đợt kiểm tra cuối năm 2011 cho thấy chỉ có 1/3 số cơ sở chế biến lớn đạt tiêu chuẩn loại A về vệ sinh thực phẩm, trong khi đó có gần 1/3 cơ sở mới đạt loại C. Một số cơ sở chế biến chè thủ công còn bất chấp cả quy định, tham gia chế biến chè bẩn, chè kém chất lượng làm ảnh hưởng đến hình ảnh cây chè, sản phẩm chè đất Tổ. Cũng do có quá nhiều cơ sở chế biến mà sản phẩm chè của tỉnh ta khá đa dạng, nhưng thiếu hẳn một thương hiệu có “tên tuổi” để khẳng định trên thị trường. Ngay hai doanh nghiệp FDI chuyên sản xuất chè đen quy mô lớn nhưng cũng “mạnh ai nấy làm” và không chú trọng lắm đến xây dựng quảng bá thương hiệu chè Phú Thọ. Trong khi trên địa bàn có rất nhiều cơ sở chế biến chè, nhưng lại chưa có cơ sở chế biến chè cao cấp, chè đặc sản như  Ô Long, chè đặc sản xuất khẩu dù Viện Nghiên cứu chè đã chế biến thành công, thương nhân nước ngoài khảo sát khẳng định Phú Thọ hoàn toàn có điều kiện để chế biến các loại chè chất lượng cao để xuất khẩu.

Cùng với những tồn tại trên là vấn đề liên kết, liên doanh trong sản xuất, tiêu thụ, quảng bá sản phẩm chè Phú Thọ. Mặc dù đã có từ rất lâu, lại hình thành được hệ thống từ nghiên cứu, sản xuất nông nghiệp, chế biến đến tiêu thụ khá hoàn chỉnh nhưng tổng thể trong sản xuất, chế biến, kinh doanh chè vẫn thiếu sự gắn bó, liên kết theo mô hình “bốn nhà”. Rõ nhất là vào vụ chè tình trạng tranh mua, tranh bán, tranh xuất khẩu chè vẫn diễn ra, từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả cây chè. Đặc biệt ngay tại những cơ sở chế biến chè chủ lực vẫn có những hộ sản xuất chè kém chất lượng, làm ảnh hưởng đến chất lượng chung. Dù chất đất tạo ra sản phẩm chè có khác đôi chút song so sánh sản phẩm chè xanh của địa bàn tỉnh ta với Thái Nguyên sẽ thấy rõ. Trong khi chè khô của họ bán phổ biến với giá từ 150-300 ngàn đồng/kg, thậm chí 400 ngàn đồng/kg, thì chè của tỉnh ta chỉ dừng lại ở mức 80-90 đến 150 ngàn đồng/kg, thậm chí ở nhiều nơi , nhiều lúc có giá chỉ từ    50-60 ngàn đồng/ kg.

Việt Nam là nước nông nghiệp có nhiều mặt hàng nông sản có thị phần quan trọng trên thị trường quốc tế, trong đó chè là cây có vị thế đáng kể.?Điều đáng suy nghĩ hiện nay là diện tích và sản lượng chè nước ta đã đứng ở tốp đầu thế giới nhưng trình độ sản xuất và giá trị thu nhập của ngành chè lại chỉ ở mức trung bình. Riêng cây chè, tỉnh ta so với mặt bằng chung cả nước cũng vậy diện tích, sản lượng ở tốp đầu, giá trị thu nhập lại chỉ ở mức trung bình. Nguyên nhân do công tác quản lý sản xuất, chế biến và xúc tiến thương mại. Hiện nay trên địa bàn tỉnh ta đã có một số doanh nghiệp sản xuất, chế biến, xuất khẩu chè khá tiên tiến như Công ty liên doanh chè Phú Bền; song quy mô lan tỏa của doanh nghiệp mới được vài ngàn ha, sản lượng đạt vài ngàn tấn. Để nâng vị thế cây chè lên đúng tầm, tăng giá trị hiệu quả không quá khó mà chủ yếu tập trung đổi mới công tác quản lý. Trước hết đẩy mạnh tuyên truyền, quản lý đối với sản xuất nông nghiệp để hướng tới đảm bảo chè có chất lượng cao, không còn dư lượng thuốc BVTV. Đặc biệt dư lượng thuốc BVTV là yêu cầu tối thượng để chế biến chè ngon, thâm nhập thị trường khó tính. Một vấn đề nữa là quản lý khâu chế biến. Vừa qua đã rà soát đánh giá, tới đây tiếp tục tăng cường kiểm tra, loại bỏ bớt những doanh nghiệp không gắn chế biến với vùng nguyên liệu, không đủ tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn thực phẩm. Tăng cường liên kết bốn nhà, trong đó đặc biệt là liên kết doanh nghiệp chế biến với nông dân. Cùng với đó đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tạo điều kiện để tăng sản lượng chè chất lượng cao, giá cao thâm nhập vào thị trường khó tính.

Quốc Vượng
 

.
.
.
.
.