.

Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật - Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp

Xuất bản: 08:17, Thứ Hai, 06/02/2012, [GMT+7]
.

PTO- Trong quá trình sản xuất nông nghiệp những năm qua, vấn đề tăng năng suất, hiệu quả cây trồng đang là một thách thức với nông dân. Để giải quyết những tồn tại này, giúp nông dân tháo gỡ khó khăn, ngành nông nghiệp và PTNTđã đưa tiến bộ kỹ thuật vào áp dụng, xây dựng các  mô hình sản xuất mới, mang lại kết quả tốt.

Đưa giống khoai tây mới vào sản xuất kết hợp với kỹ thuật làm đất tối thiểu đã giúp nhiều hộ nông dân ở các xã miền núi có thu nhập cao. - Cán bộ Chi cục BVTV cùng khuyến nông xã Hưng Long kiểm tra mô hình trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu.
Đưa giống khoai tây mới vào sản xuất kết hợp với kỹ thuật làm đất tối thiểu đã giúp nhiều hộ nông dân ở các xã miền núi có thu nhập cao.
- Cán bộ Chi cục BVTV cùng khuyến nông xã Hưng Long kiểm tra mô hình trồng khoai tây theo phương pháp làm đất tối thiểu.

Sau gần 30 năm thực hiện chính sách giao ruộng đất nông nghiệp đến hộ nông dân đã tạo được bước chuyển biến rất lớn trong sản xuất nông nghiệp, góp phần vượt qua sự trì trệ, hạn chế của thời bao cấp. Thành tích lớn nhất trong mấy chục năm qua là đã giải quyết được vấn đề lương thực, đưa nước ta không chỉ sản xuất đủ ăn mà còn trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu  thế giới.

Phú Thọ tuy không phải là địa phương sản xuất lương thực xuất khẩu, nhưng vấn đề an ninh lương thực đã từng bước được giải quyết khá tốt. Đến năm 2011, sản lượng thóc, ngô trên địa bàn đã đạt trên 47 vạn tấn, cao hơn sản lượng lương thực cả tỉnh Vĩnh Phú những năm 1990; so với trước khi tái lập tỉnh Phú Thọ năm 1997 tăng hơn 170% (tăng hơn gần 20 vạn tấn) lương thực.  Trong giai đoạn đó lương thực được tính theo công thức quy thóc, tức là trong sản lượng lương thực ngoài lúa, ngô còn có cả khoai, sắn. Đến nay hầu như khắp các địa bàn trong tỉnh không còn tình trạng thiếu đói, ăn độn khoai, sắn. Ngay cả ngô được xếp trong cơ cấu lương thực cũng chủ yếu phục vụ chăn nuôi.

Cùng với kết quả nổi bật trên, có rất nhiều mô hình nuôi, trồng các cây, con có năng suất, chất lượng mang lại giá trị, hiệu quả cao từng bước tạo cho nông dân cơ hội làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương. Điều kiện hạ tầng, cơ sở vật chất trong nông nghiệp, nông thôn từng bước được đầu tư, cải thiện.

Cùng với những thành tựu nổi bật trên, gần đây trong nông nghiệp, nông thôn cũng xuất hiện một số khó khăn, hạn chế và đang chịu những áp lực từ kinh tế thị trường và xu thế hội nhập mang lại. Một khó khăn rõ nhất đối với sản xuất nông nghiệp (phổ biến ở hầu khắp các địa phương) đang diễn ra là tình trạng thiếu lao động. Khi làm việc với chúng tôi, đồng chí Phó Chủ tịch UBND xã Cao Xá huyện Lâm Thao thừa nhận: Trong làng, xã lao động phổ biến là người cao tuổi, chị em phụ nữ trung niên trở lên, rất ít thanh niên. Hầu hết thanh niên sau khi học xong phổ thông, tiếp tục vào học các trường đại học, cao đẳng, hoặc học nghề đi làm công nhân, viên chức. Số ít đi xuất khẩu lao động, đi làm thuê, ở lại nông thôn đa phần là chị em phụ nữ, người già, trẻ em. Cùng với thiếu lao động là tình trạng ruộng đất manh mún. Mặc dù thời gian qua nhiều địa phương đã thực hiện dồn đổi ruộng đất tạo thành ô thửa lớn, song do việc xé nhỏ ruộng đất, chia đều đến khẩu trước đây dù dồn đổi tích cực đến đâu ruộng đất cho sản xuất nông nghiệp vẫn là ô thửa nhỏ. Các diện tích liền khoảnh ô thửa lớn phần đa thuộc diện quỹ đất 2, đất đấu thầu giao làm trang trại, doanh nghiệp, còn lại đất trồng cây hàng năm quy mô nhỏ, một hộ vẫn có nhiều ô thửa, nên rất khó bố trí sản xuất quy mô lớn. Tại xã Vĩnh Lại huyện Lâm Thao - nơi được coi là đồng ruộng đẳng điền của tỉnh mỗi hộ ít nhất vẫn có 5 mảnh ruộng khác nhau. Còn các hộ ở vùng trung du, miền núi nơi nào ít cũng có trên dưới chục thửa, hộ nhiều cũng vài chục thửa ruộng. Từ chỗ thiếu lao động, ruộng đất quy mô nhỏ lẻ nên rất khó tổ chức sản xuất lớn, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, có giá trị cao và nâng cao hiệu quả sản xuất. Liên tục trong năm 2010 và 2011, một số doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài đến đặt vấn đề xây dựng khu đồng sản xuất lúa theo công nghệ, kỹ thuật của Nhật Bản song không thực hiện được bởi ruộng đất quá manh mún. Hay việc trồng cây đậu tương, đến nay dù có chủ trương, cơ chế khuyến khích nhưng vẫn không thành công, nguyên nhân chủ yếu vẫn do không có quỹ đất quy mô lớn và nhận thức của nông dân chưa thay đổi. Từ những bất cập trên đây dẫn tới sản xuất nông nghiệp không tạo thành vùng hàng hóa có khối lượng lớn, càng khó tạo dựng được thương hiệu để cạnh tranh khi hội nhập. Trong khi giá thành lúa sản xuất ở đồng bằng Sông Cửu Long năm 2011 chỉ khoảng 5.000-5.500 đồng/kg thóc (thậm chí dưới 4.000 đồng) thì tại đồng bằng sông Hồng cao hơn từ 500 đến 1.000 đồng. Như vậy nếu tham gia xuất khẩu thì không đủ sức cạnh tranh. Ở tỉnh ta khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, đóng góp sau sản xuất lương thực và một số cây trồng, người nông dân chỉ dừng lại “lấy công làm lãi”. Trước thực trạng này việc thay đổi tư duy, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất thì khó tạo bước đột phá, phát triển nông nghiệp.

Về đất đai trong nông nghiệp, theo tinh thần Nghị định 64, đến năm 2013 thời gian giao đất sẽ hết, sau thời điểm này Chính phủ sẽ có chính sách điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Trước mắt trên cơ sở quỹ đất đã giao đến hộ, các địa phương tiếp tục chỉ đạo dồn điền, đổi thửa cho phù hợp, trong đó vẫn phải tập trung thực hiện tốt các biện pháp thâm canh tăng vụ và việc áp dụng khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất là chìa khóa để nâng cao năng suất, hiệu quả cây trồng. Đây là vấn đề không mới, không khó mà chủ yếu do cách làm và biện pháp chỉ đạo tại cơ sở. Đơn cử như việc gieo mạ xuân cần che phủ nilon để tránh mạ bị chết khi có rét đậm. Đây là biện pháp kỹ thuật đơn giản không nhiều nhưng phải qua quá trình chỉ đạo sát sao  chặt chẽ vài năm nay mới tạm đi vào nền nếp. Hay việc cấy mạ non để cho cây lúa có thời gian sinh trưởng đẻ nhiều nhánh tạo nhiều bông hữu hiệu, tăng năng suất, dù hệ thống kỹ thuật của ngành nông nghiệp chỉ đạo rất quyết liệt nhưng nhiều hộ nông dân vẫn cấy mạ già, nhổ mạ kiểu truyền thống. Đặc biệt gần đây ngành nông nghiệp triển khai kỹ thuật gieo sạ thẳng hàng, sản xuất theo công nghệ tổng hợp khép kín(SRI) nhưng nhiều nơi, nhiều hộ vẫn không tiếp thu. Đây là những thay đổi tuy nhỏ, nhưng mang lại hiệu quả rất tốt. Việc gieo thẳng mỗi sào ruộng đã tiết kiệm cho nông dân từ 0,5-1,5 kg thóc giống, 1công cấy (tương đương khoảng 120-150 ngàn đồng). Đặc biệt các chương trình liên quan đến cơ giới hóa mang lại hiệu quả rất rõ nhưng đối với nhiều hộ nông dân vẫn tỏ ra băn khoăn, lưỡng lự. Gần đây các doanh nghiệp sản xuất đã cho ra nhiều loại phân bón khép kín, bón qua lá nhằm mục đích bổ sung đủ các chất vi lượng cho cây trồng khi nông dân gieo trồng không bón đủ phân hữu cơ và giảm chi phí nhân công nhằm tăng năng suất cây trồng, nhưng nhiều nông dân vẫn chưa nhận thức đầy đủ, không chịu đầu tư thâm canh bón không đủ lượng dẫn đến năng suất thấp dù có giống tốt, thủy lợi đầy đủ. Trong khi nhiều hộ nông dân nhận thức chưa đầy đủ, công tác chỉ đạo tại  khá nhiều cơ sở chưa được coi trọng, đã tạo ra sự không đồng đều trong việc áp dụng KHKT vào sản xuất. Trong bối cảnh nhiều hộ coi nhẹ việc làm ruộng, một số hộ thiếu vốn, thiếu kiến thức lại thiếu sự chỉ đạo kiên quyết thì sẽ dẫn đến hiệu quả không cao, lãng phí trong sản xuất.

Để giải quyết tốt vấn đề đưa kỹ thuật vào sản xuất hàng năm tỉnh đã có các chương trình khuyến khích, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để đưa giống mới, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật đến nông dân. Hàng năm ngành nông nghiệp rất tích cực tìm kiếm các loại giống, phân bón, kỹ thuật canh tác mới để đưa vào đồng ruộng. Vấn đề còn lại là nhận thức của người sản xuất và chỉ đạo của cơ sở làm sao áp dụng và nhân rộng để tăng năng suất, hiệu quả cây trồng. Trong khi lao động nông thôn ngày một ít, ruộng đất cho nông nghiệp có xu hướng sút giảm chỉ có đầu tư kỹ thuật mới đảm bảo để nông dân tiến kịp với xu thế phát triển của xã hội.

Quốc Vượng

.
.
.
.
.