.

Cần thực hiện tốt chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản

Xuất bản: 07:57, Thứ Năm, 16/08/2012, [GMT+7]
.

Tiếp tục chương trình phiên họp thứ 10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), chiều 15/8, UBTVQH đã cho ý kiến về Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường.

Trình bày Báo cáo giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Phan Xuân Dũng (cơ quan được giao chủ trì thực hiện giám sát ) cho biết, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội (QH), đến nay Đoàn giám sát của UBTVQH đã tổ chức giám sát tại 13 địa phương; khảo sát tại 58 khu vực khai thác mỏ của nhiều doanh nghiệp trên cả nước; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo. Đoàn giám sát đã yêu cầu Đoàn đại biểu quốc hội (ĐBQH) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức giám sát độc lập các hoạt động quản lý, khai thác khoáng sản trên địa bàn. Đã có 63 tỉnh và 44 Đoàn ĐBQH gửi báo cáo tới Đoàn giám sát.

Theo Báo cáo, việc ban hành Luật Khoáng sản và Luật Bảo vệ môi trường, cùng với 217 văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đã tạo được hành lang pháp lý cho công tác quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường thời gian qua, tạo điều kiện cho công tác này từng bước phát triển. Đến nay nước ta đã phát hiện được trên 5.000 mỏ và điểm quặng với trên 60 loại khoáng sản khác nhau. Ngành công nghiệp khai khoáng đã đóng góp từ 10-11% GDP (bao gồm cả dầu, khí). Giá trị sản xuất công nghiệp khai khoáng theo giá hiện hành năm 2001 là 52.238,6 tỷ đồng đến năm 2009 tổng giá trị lên đến 212.164 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị sản xuất công nghiệp khai khoáng giai đoạn 2001-2009 là 14,9%.

Tuy nhiên, Đoàn giám sát của UBTVQH cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong việc ban hành chính sách, pháp luật về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường.

Báo cáo chỉ rõ, qua giám sát, một số ý kiến của các ĐBQH, nhà khoa học, quản lý cho rằng một số quy định của một số luật liên quan đến lĩnh vực quản lý, khai thác khoáng sản gắn với BVMT còn không ít bất cập, có lúc, có nơi còn bị ảnh hưởng từ quan niệm đến cách nhìn của cơ quan xây dựng văn bản. Ví dụ như, quy định tại Điều 79 của Luật Khoáng sản 2010 về đấu giá quyền khai thác khoáng sản ở khu vực chưa thăm dò là khó khả thi. Điều 80 của Luật này cũng không quy định rõ vai trò của Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng, trong khi đó Bộ Công Thương lại được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về khai thác mỏ, chế biến và sử dụng khoáng sản (trừ khoáng sản làm vật liệu xây dựng); Bộ Xây dựng được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về khai thác mỏ, chế biến và sử dụng khoáng sản làm vật liệu xây dựng. Các quy định về thuế tài nguyên và cấp các loại giấy phép cũng có nhiều điểm chưa thực sự hợp lý.
 

Ảnh minh họa (Nguồn: Báo Hải Quan) 

Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật về thuế tài nguyên chưa thật sự chặt chẽ, như thuế suất thuế tài nguyên được quy định trong khoảng rộng (than 4-20%, dầu thô 4-40%, đất hiếm 12-25%, kim loại 7-25%, phi kim 3-15%...), mặc dù đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan điều hành, quản lý thuế dễ điều chỉnh trong quá trình triển khai thực hiện, nhưng lại dễ dẫn đến việc áp dụng có lúc, có nơi còn tùy tiện. Chính điều này góp phần dẫn đến việc doanh nghiệp chỉ khai thác khu vực khoáng sản có chất lượng cao, bỏ khu vực khoáng sản có chất lượng thấp để hạ giá thành khai thác, tăng lợi nhuận, “dễ làm, khó bỏ”, làm tổn thất tài nguyên.

Trong khi đó, công tác cấp phép thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản trên thực tế còn nhiều tồn tại. Số lượng cấp giấy phép khai thác khoáng sản của các địa phương khá lớn, vượt quá nhu cầu làm tổn hại tới môi trường, thất thoát tài nguyên khoáng sản.

Theo Báo cáo của Chính phủ, chỉ trong 3 năm, từ tháng 10/2005 đến tháng 8/2008, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cấp 3.495 giấy phép khai thác, gấp hơn 7 lần số lượng Trung ương cấp trong 12 năm là 478 giấy phép khai thác. Theo đó, tổn thất tài nguyên khoáng sản là rất lớn, nhất là các địa phương có biên giới, có cảng thì xuất khẩu khoáng sản thô là khá nhiều.

Đáng lưu ý, số lượng giấy phép khai thác khoáng sản nhiều nhưng số lượng dự án chế biến sâu khoáng sản còn quá ít. Trong các năm qua, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã cấp hơn 4 nghìn giấy phép khai thác, trong khi đó số lượng dự án chế biến sâu khoáng sản còn rất ít. Nếu có thì cũng là những dự án chế biến với công nghệ đơn giản, không có giá trị cao về mặt kinh tế.

Góp ý vào bản Báo cáo, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu đề nghị đánh giá sâu sắc hơn về tác động kinh tế - xã hội của hoạt động khoáng sản với các mốc thời gian cụ thể; từ đó mới có cơ sở kiến nghị chính sách phù hợp.

Đánh giá cao mức độ công phu của Báo cáo, song Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển đề nghị chú trọng phân tích khâu tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, cũng như nêu rõ địa chỉ trách nhiệm khi xảy ra những vụ việc sai phạm. Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển thẳng thắn chỉ ra và đề nghị Đoàn giám sát cần chỉ rõ: “Ban hành văn bản chậm là lỗi của Bộ nào, cấp nào? Bao nhiêu tỉnh cấp mỏ không đúng quy hoạch, là tỉnh nào”? Nên có những kiến nghị rất cụ thể, trúng và đúng, tránh dàn trải”.

Còn theo Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước, khai khoáng không chỉ đơn thuần là hoạt động kinh tế mà còn có tác động đến xã hội, môi trường rất lớn. Ông Phước băn khoăn: “Phần phân tích tác động môi trường của Báo cáo còn mờ nhạt. Thực tế so với Báo cáo đánh giá tác động môi trường khi xin cấp phép như thế nào? Môi trường rừng, nguồn nước bị ảnh hưởng ra sao? Một đặc điểm nữa của khai thác, vận chuyển khoáng sản là phá hủy cơ sở hạ tầng rất ghê gớm. Đường sá hỏng, cầu gãy… ai chịu trách nhiệm sửa chữa”?

Đáng lưu ý, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc bày tỏ bức xúc về nạn “quặng tặc” ngang nhiên khai thác nhiều loại khoáng sản trong khi cơ quan nhà nước không làm hết trách nhiệm. Ông nhấn mạnh, “ở đây không phải chuyện thiếu quy định mà là thực hiện pháp luật không nghiêm”.

Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai quan tâm đến vấn đề an toàn lao động và an ninh trật tự tại nhiều địa phương có hoạt động khoáng sản. Bà Mai cũng đề nghị đánh giá kỹ càng hơn chất lượng văn bản quy phạm pháp luật của các địa phương liên quan đến hoạt động khoáng sản. Đồng tình với ông Phùng Quốc Hiển về chỉ rõ địa chỉ trách nhiệm, bà nhận xét: “Kiểm tra hàng trăm, hàng ngàn doanh nghiệp cả trung ương và địa phương mà số tiền phạt không đáng kể, như vậy đã đảm bảo nghiêm minh chưa”?

Góp ý cho báo cáo này, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh Nguyễn Kim Khoa bày tỏ, vài năm trở lại đây, hiện tượng cát tặc, đá tặc.. diễn ra khắp nơi, gây ra nhiều hệ lụy về môi trường, xã hội. Có thể nói quản lý nhà nước về lĩnh vực này ở các địa phương rất lỏng lẻo, tình hình an ninh trật tự diễn biến phức tạp. Ví dụ như tỉnh Kon Tum, Quảng Nam, Phú Thọ… không có nơi nào có khoáng sản mà không có những diễn biến phức tạp. Báo cáo giám sát còn “bình yên” quá, chưa phản ánh đúng tình hình. Ông Khoa đề nghị, Báo cáo cần chỉ ra những nguyên nhân để xử lý những hành động vi phạm pháp luật ở lĩnh vực này, trong đó cần chú ý đến nguyên nhân cốt lõi là do quản lý.

Đánh giá cao đây là Báo cáo giám sát quan trọng, tuy nhiên Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho rằng, khi đánh giá về các luật khoáng sản trong từng giai đoạn thì phải đánh giá rõ cơ chế cấp phép từng giai đoạn như thế nào chứ không nên đánh giá chung chung như trong Báo cáo giám sát này.../.

Theo ĐCSVN

.
.
.
.
.