Logo of Phú Thọ Logo of Phú Thọ

Vì nền nông nghiệp hiện đại, phát triển bền vững

Kỳ II: Còn nhiều “rào cản”

Thứ năm, 08/10/2020, 07:00:49
Print + | - Font Size: A
Kỳ II: Còn nhiều “rào cản”

Kỳ II: Còn nhiều “rào cản”

A Font Size: - | +

nongnghiepbpt-2-1602115215
Nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh hiện đang phát triển nhưng vẫn thiếu chuỗi liên kết khiến đầu ra chưa ổn định.

>>> Kỳ I: Bước tiến trong quá trình hội nhập

PTĐT - Những hạn chế nội tại về sản xuất nhỏ, phân tán mặc dù đã được tích cực khắc phục và có nhiều chuyển biến nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa quy mô lớn; nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản vẫn gặp nhiều khó khăn... Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu ngày càng khó lường, tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất. Đó là những rào cản chính khiến nông nghiệp chưa thể phát triển toàn diện, nâng cao giá trị kinh tế. 

Luôn được xem là mục tiêu, giải pháp hàng đầu để nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích canh tác, qua thực tế sản xuất cho thấy, tuy đã đạt được hiệu quả kinh tế trong quá trình chuyển đổi song việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng của các địa phương còn thiếu bền vững. Mục tiêu trong công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng mà ngành nông nghiệp định hướng cho các địa phương không chỉ hướng đến hiệu quả kinh tế mà còn đến sự phát triển bền vững. Do đó, sự xuất hiện của doanh nghiệp trong chuỗi liên kết là hết sức cần thiết, đảm bảo cho quá trình sản xuất cũng như đầu ra cho sản phẩm, trong khi đó, số lượng doanh nghiệp đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh còn ở con số khiêm tốn. 

Tại huyện Tân Sơn, những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của huyện dần phát triển theo hướng hàng hóa nhưng việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp còn những khó khăn nhất định. Ông Phan Minh Đức - Trưởng phòng Nông nghiệp & PTNT huyện cho biết: Xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất đang là rào cản chính đối với phát triển nông nghiệp bền vững và thu hút doanh nghiệp đầu tư. Trừ cây chè, còn hầu hết các vùng nguyên liệu hiện nay trên địa bàn chỉ có quy mô từ vài ha đến khoảng 50, 60 ha là tối đa. Trong khi đó, đối với doanh nghiệp để có thể yên tâm đầu tư xây dựng cơ sở chế biến thì tối thiểu vùng nguyên liệu của họ phải từ vài trăm đến vài nghìn ha

Đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ là yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp nhằm xoá bỏ hình thức sản xuất truyền thống nhỏ lẻ, manh mún hướng tới nền sản xuất hiện đại, mang lại giá trị sản phẩm cao hơn, tạo sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng của ngành nông nghiệp địa phương. Việc triển khai ứng dụng KHKT, cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp ở tỉnh còn gặp khó khăn do tập quán canh tác hạn chế; phát triển kết cấu hạ tầng cho các vùng sản xuất chưa đảm bảo nhu cầu phát triển cơ giới hoá. Toàn tỉnh hiện có trên 60 nghìn máy móc các loại được sử dụng trong sản xuất nông, lâm, nghiệp và thủy sản song chủ yếu được sử dụng ở một số khâu như làm đất, thu hoạch… còn trong gieo cấy, bảo quản sau thu hoạch và trong chăn nuôi thì tỷ lệ ứng dụng cơ giới còn rất thấp. Đối với canh tác lúa, ngô, cơ giới hóa ở khâu gieo trồng đạt dưới 20%; mức độ cơ giới hóa đối với chăn nuôi gia súc ở khâu chuồng trại đạt 35%; vệ sinh, thu gom, xử lý phụ phẩm dưới 20%.

Nguyên nhân là do phần lớn diện tích đất canh tác của nông dân còn manh mún, địa hình trung du miền núi phức tạp. Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp hàng hoá; việc liên kết “4 nhà”, đặc biệt là giữa các đơn vị nghiên cứu khoa học với người sản xuất chưa chặt chẽ nên hiệu quả chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chưa cao. Bên cạnh đó, trình độ của người dân trong việc tiếp cận các tiến bộ KHKT chưa đồng đều. Người sản xuất, kinh doanh còn nặng tư duy đề cao kinh nghiệm truyền thống, chưa tích cực thực hành phương thức sản xuất, kinh doanh theo chuỗi với các đòi hỏi về lập kế hoạch sản xuất, lập hồ sơ theo dõi kiểm soát các quá trình liên quan trong chuỗi… 


nongnghiepbpt-1-1602115228
Công nghiệp chế biến chè trên địa bàn tỉnh chủ yếu vẫn ở dạng sơ chế nên giá trị kinh tế không cao.

Yếu tố quan trọng quyết định tới việc sản xuất hàng hóa, xây dựng vùng nguyên liệu là phải có quỹ đất tập trung, hình thành vùng sản xuất chuyên canh để có sản phẩm hàng hóa số lượng lớn nhưng hiện nay số vùng sản xuất tập trung còn ít, quy mô chưa lớn là do kết quả thực hiện dồn đổi ruộng đất trên địa bàn tỉnh chưa đồng đều, chủ yếu thực hiện ở những vùng có địa hình thuận lợi, bằng phẳng, tập trung khu vực đất lúa và đất màu bãi, nhiều địa phương chỉ thực hiện ở mô hình điểm. Mặc dù cả tỉnh đã xây dựng được 21 vùng có quy mô trên 30ha song với số diện tích vài chục ha của một vùng như vậy khó đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu bền vững cho sản xuất lớn theo chuỗi giá trị. 

Ông Mai Văn Quang - đại diện của Công ty cổ phần Nafood Tây Bắc, đơn vị đang đầu tư thí điểm trồng chanh leo ở huyện Tân Sơn cho biết: Để thu mua sản phẩm ổn định, có lợi cho cả doanh nghiệp và người sản xuất thì tối thiểu diện tích trồng chanh leo ở Tân Sơn phải đạt từ 80 đến 100ha. Với quy mô hiện có khoảng 5ha, chi phí vận chuyển sản phẩm bị đội lên quá cao ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nhất là trong thời điểm dịch bệnh, khó xuất khẩu như hiện nay.

Việc đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ ở nông thôn chậm chuyển biến, gắn kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ chưa bền vững. Phần lớn các sản phẩm nông nghiệp hiện nay là sản phẩm thô, chưa qua chế biến, nhất là chế biến sâu, nên giá trị hàng hóa không cao. Công nghiệp chế biến nông sản hiện có chủ yếu ở quy mô vừa và nhỏ, hình thức hộ gia đình với thiết bị cũ, công nghệ lạc hậu, tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng nên khả năng chế biến đối với một số ngành hàng chủ lực của tỉnh còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là cao điểm của mùa vụ, kéo theo nhiều sản phẩm nông nghiệp không có đầu ra ổn định, phụ thuộc hoàn toàn thị trường nên giá cả bấp bênh, tiềm ẩn rủi ro cao. 

Trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng thương hiệu cho nông sản sẽ tạo động lực cho sự phát triển sản xuất, giúp người dân, doanh nghiệp tham gia hiệu quả, chủ động vào thị trường. Để có thương hiệu nông sản mạnh, điều kiện tiên quyết là cần có vùng nguyên liệu dồi dào, chất lượng, trên cơ sở đã đăng ký nhãn hiệu bảo hộ. Một số vùng chuyên canh đã hình thành nhưng chất lượng không đồng nhất, thiếu ổn định, chưa tổ chức sản xuất kết hợp chặt với tiêu thụ. Nhận thức về thương hiệu hàng hoá của số đông nông dân vẫn còn chưa cập với nền kinh tế thị trường. Nhãn hiệu tập thể nông sản có đặc thù là sở hữu chung của một tập thể nhưng sự gắn kết, ràng buộc còn lỏng lẻo nên việc giữ và phát triển nhãn hiệu, thương hiệu rất khó khăn...

Vai trò của kinh tế tập thể, nòng cốt là HTX có nơi chưa thực sự rõ nét, hiệu quả hoạt động chưa cao, đa số các HTX chỉ cung cấp được một số dịch vụ sản xuất mà chưa làm được chức năng tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Nguyên nhân do mức vốn góp của thành viên thấp, phần lớn các HTX chưa có khả năng tích luỹ vốn để tái đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, xây dựng cơ sở vật chất khiến quy mô sản xuất nhỏ lẻ; sức cạnh tranh của dịch vụ trên thị trường thấp. Điều này dẫn đến thiếu sự chủ động trong quản lý điều hành, chưa khai thác có hiệu quả các nguồn nội lực để vươn lên.

Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, nhất là khi đưa vào sản xuất quy mô lớn hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn khó khăn; ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp mới chỉ tồn tại ở dạng mô hình thử nghiệm và đa phần có sự bảo trợ của Nhà nước; nguồn nhân lực, lao động có trình độ cao, có tay nghề trong nông nghiệp trên địa bàn tỉnh vừa thiếu lại vừa yếu.

Vì vậy, trong bối cảnh hội nhập, việc tiếp tục thực hiện các giải pháp để nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, vừa đảm bảo an ninh lương thực vừa nâng cao giá trị gia tăng, sản xuất hàng hóa quy mô lớn trên cơ sở phát huy các lợi thế, tạo ngành hàng chủ lực của tỉnh là vấn đề đặt ra cần phải giải quyết với những giải pháp căn cơ phù hợp.

Kỳ III: Đổi mới để thích ứng 
 

Nhóm PV kinh tế 

Ý kiến bạn đọc ( 0 )
Bình luận bài viết
CAPTCHA Image security
TIN LIÊN QUAN
rss - Trở về đầu trang