Logo of Phú Thọ Logo of Phú Thọ

Một lần thăm di tích nhà tù Sơn La

Thứ bảy, 10/03/2012, 09:59:00
Print + | - Font Size: A

PTO- Từ thuở còn ngồi ghế nhà trường, qua những trang sách giáo khoa, những cuốn sách viết về Sơn La, trong tôi đã hình thành ý niệm sâu sắc về miền Tây Bắc. Đến Sơn La là sẽ được đến với một vùng núi non hùng vĩ và có cơ hội khám phá những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào 12 dân tộc anh em; được cuốn hút vào vòng xòe, tay trong tay với các cô gái Thái, ngây ngất say trong men rượu cần, cùng thả hồn theo ánh lửa bập bùng và giọng hát ngọt ngào, vang xa trong đêm hội.

Sơn La là tỉnh tiếp giáp phía Tây của Phú Thọ, nhưng từ Việt Trì lên thành phố tỉnh lỵ Sơn La, một thời được gọi là “Thủ đô của miền Tây Bắc”, xe chạy hết hơn 6 giờ. Anh em ở Báo Sơn La và Hội nhà báo tỉnh bạn đón các đồng nghiệp đến từ đất Tổ rất nồng nhiệt. Sau bữa cơm trưa muộn tại một bản người Thái ở phía Bắc thành phố, chúng tôi được bố trí đi thăm di tích nhà ngục Sơn La liền kề với Bảo tàng tỉnh. Nhà tù Sơn La nằm ngay trung tâm thành phố, trên đỉnh đồi Khau Cả, từ đây có thể phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh phố xá miền Tây. “Địa ngục trần gian” này do Thực dân Pháp xây dựng năm 1908 với diện tích ban đầu là 500m2, chủ yếu để giam tù thường phạm. Sau đó vào năm 1930, chúng mở rộng thêm 1.500m2 và năm 1940 mở rộng tiếp 1.700m2 để đủ chỗ giam cầm những người cộng sản. Quy mô nhà tù Sơn La như thế cũng đủ thấy trong thời kỳ đen tối, bọn thực dân đã khủng bố tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng của nhân dân ta khốc liệt đến mức nào. Trong những năm từ 1930 - 1945, tại đây có hơn 1.000 tù chính trị, trong đó có những cán bộ ưu tú của Đảng như các đồng chí: Lê Duẩn, Trường Chinh, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Lương Bằng, Song Hào, Xuân Thủy... từng bị giam cầm.

Đã hơn nửa thế kỷ qua đi, nhưng những dấu tích tội ác của Thực dân Pháp vẫn còn hiển hiện, như là bằng chứng đối lập với tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng không gì lay chuyển của lớp lớp những đồng chí cách mạng tiền bối trung kiên đã từng bị giam cầm ở nơi “rừng thiêng, nước độc” như nhà ngục Sơn La. Vẫn còn đó hàng trăm hiện vật, những công cụ tra tấn - những chứng tích về tội ác dã man của kẻ thù như còng tay, xích sắt, bàn kẹp sắc nhọn, những chiếc bát sứt mẻ dùng cho tù nhân ăn uống hàng ngày; hình ảnh các tù nhân bị thực dân Pháp giam cầm, hành hạ chỉ còn da bọc xương được thể hiện qua bức phù điêu lớn treo tại phòng trưng bày.

Lò Thị Tuyết – cô hướng dẫn viên người Thái của Bảo tàng Sơn La - dẫn chúng tôi qua khuôn cửa hẹp nhà ngục vào thăm nơi giam cầm các chiến sĩ cách mạng. Hướng dẫn khách tham quan đã là nghiệp, dường như rất ít ngày không cùng khách vào thăm nhà ngục, nhưng như Tuyết nói - mỗi lần vào đây, cô vẫn vô cùng xúc động và khâm phục tinh thần quả cảm của các đồng chí bị giặc giam cầm, tra tấn dã man ở đây. Học đại học chính quy lại chịu khó đọc sách báo, thu thập tư liệu nên Tuyết thường có nhiều điều hơn để nói với khách. Thế nên chúng tôi mới được biết câu chuyện về người đảng viên trung kiên, bất khuất của Đảng: Đồng chí Tô Hiệu – người mà năm 2012 này sẽ tròn 100 năm sinh và ngày 7-3 sẽ là đúng 68 năm ngày mất.

Chúng tôi, ai cũng xúc động khi nghe cô hướng dẫn viên kể về cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Tô Hiệu trong thời gian bị giam cầm ở đây. Cuối năm 1939, Tô Hiệu bị địch bắt và bị bọn thực dân xử tù đày đi nhà tù Sơn La. Tại đây, một lần nữa người Cộng sản trẻ tuổi Tô Hiệu đã thể hiện ý chí kiên cường dũng cảm trước đòn roi tra tấn của địch, tham gia tích cực vào các cuộc đấu tranh chống bọn cai ngục. Ông được bầu làm Bí thư chi bộ nhà tù Sơn La. Ông tham gia viết báo, soạn tài liệu huấn luyện cán bộ. Ông đã biến nhà tù của địch thành trường học đào tạo được nhiều cán bộ ưu tú cho Đảng. Bọn cai ngục ở đây thấy Tô Hiệu chính là mối nguy hiểm tiềm tàng chúng đã giam riêng ông, nhưng bằng mọi cách Tô Hiệu vẫn âm thầm lặng lẽ chỉ đạo sát sao phong trào đấu tranh của những người tù cộng sản. Do đòn roi tra tấn dã man, chế độ nhà tù hà khắc của thực dân cùng với bệnh lao phổi nặng,    ngày mồng 7 tháng 3 năm 1944 Tô Hiệu đã trút hơi thở cuối cùng khi ông mới 32 tuổi. Lời căn dặn cuối cùng của ông với đồng đội “Các đồng chí hãy cố gắng lên, đừng phút nào quên nhiệm vụ của mình”.

Để tưởng nhớ người đồng chí thân yêu, những người cộng sản ở nhà tù Sơn La đã khắc tấm bia mang tên “Tô Hiệu”, bí mật đặt dưới mộ ông. Cây đào mà đồng chí thường ngày chăm sóc tiếp tục được các đồng chí ở lại trông nom, cứ mỗi độ xuân về lại bật hoa hồng lộc biếc, gieo niềm hy vọng vào tương lai cách mạng. Sau này cây được đặt tên là “cây đào Tô Hiệu” - mà ngày nay, ai lên thăm nơi này đều không thể không một lần ước muốn được đứng dưới tán cây xanh để nhớ về một thời kỳ đen tối nhưng rất đỗi oanh liệt của cách mạng Việt Nam. Và, đoàn các nhà báo, hội viên Hội nhà báo Phú Thọ chúng tôi lên thăm Sơn La năm ấy cũng đã được đứng dưới tán đào mát rượi, chụp tấm ảnh lưu niệm sau tấm biển xanh chữ đỏ ghi dấu “Cây đào Tô Hiệu”.

Lần giở ký ức để viết những dòng này khi Trung ương vừa tổ chức hội nghị triển khai học tập Nghị quyết Trung ương 4 về Xây dựng Đảng, trong tôi dâng lên niềm kính phục sự hy sinh, chịu đựng của trên ngàn chiến sĩ cộng sản bị giam cầm ở nhà tù Sơn La, cũng như hàng chục vạn cán bộ, đảng viên đã từng chịu đựng hy sinh, gian khổ trong chốn lao tù của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ để ánh lửa niềm tin của dân vào Đảng luôn ngời sáng, ngay cả ở những nơi tối tăm nhất. Yêu cầu chỉnh đốn, xây dựng Đảng thật sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức là việc đầu tiên phải làm để Đảng mãi là nơi hội tụ niềm tin, hy vọng của nhân dân.

Nguyễn Sản

Ý kiến bạn đọc ( 0 )
Bình luận bài viết
CAPTCHA Image security
TIN LIÊN QUAN
rss - Trở về đầu trang