{title}
{publish}
{head}
Giữa địa hình núi đá, nguồn nước tự nhiên khan hiếm, việc bảo đảm nước sinh hoạt cho người dân xã Dũng Tiến vẫn là bài toán khó. Với gần 20.000 nhân khẩu, trên 4.200 hộ dân, khoảng 30% số hộ còn khó khăn về nguồn nước. Dù đã được đầu tư 5 công trình cấp nước sạch, nhiều hạng mục xuống cấp, bể chứa và đường ống hư hỏng, ảnh hưởng đến khả năng cung cấp nước, nhất là vào mùa khô. Thực trạng này cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về giải pháp quản lý, vận hành hiệu quả các công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh.
Nhiều công trình cấp nước xuống cấp, ngừng hoạt động
Tại Dũng Tiến, địa hình phức tạp khiến việc tìm kiếm, khai thác nguồn nước tự nhiên và nước ngầm gặp nhiều khó khăn. Các công trình được đầu tư qua nhiều giai đoạn, chịu tác động của thời tiết, mưa lũ và thời gian khai thác. Khi bể chứa, bai dâng, đường ống và các hạng mục kỹ thuật xuống cấp, khả năng dẫn, trữ và phân phối nước bị ảnh hưởng, gây khó khăn cho sinh hoạt của người dân.
Tình trạng công trình cấp nước sạch nông thôn hoạt động kém hiệu quả, ngừng vận hành không chỉ diễn ra tại Dũng Tiến mà còn phổ biến ở nhiều địa phương trong tỉnh.
Theo kết quả rà soát của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có 592 công trình cấp nước sạch nông thôn, trong đó 185 công trình đang hoạt động, chiếm 31,25%; 407 công trình đã ngừng hoạt động, chiếm 68,75%. Trong số này, khu vực Phú Thọ cũ có 203 công trình, với 72 công trình đang hoạt động; khu vực Vĩnh Phúc cũ có 47 công trình, 17 công trình đang hoạt động; khu vực Hòa Bình cũ có 342 công trình, 96 công trình còn vận hành, 246 công trình đã ngừng hoạt động. Đáng chú ý, trong số 407 công trình ngừng hoạt động, có 401 công trình do UBND cấp xã quản lý. |

Công trình cấp nước Vó Khi, xã Mường Động, dù được xây dựng từ lâu nhưng vẫn hoạt động hiệu quả nhờ thường xuyên được duy tu, bảo dưỡng.
Theo đồng chí Hoàng Đình Tráng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, phần lớn công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh được xây dựng từ những năm đầu thập niên 2000, bằng nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia, ngân sách các cấp và đóng góp của Nhân dân. Tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công trình thường có quy mô nhỏ, phục vụ phạm vi thôn, xóm, công nghệ xử lý nước đơn giản. Sau nhiều năm khai thác, không ít công trình xuống cấp nhưng chưa được sửa chữa, nâng cấp kịp thời.
Bên cạnh đó, địa hình trung du, miền núi chia cắt, chênh lệch độ cao lớn, dân cư phân tán khiến chi phí đầu tư và vận hành cao, trong khi khả năng thu hồi vốn thấp, khó thu hút doanh nghiệp tham gia. Nguồn nước thô tại nhiều nơi phụ thuộc vào sông, suối, khe, mó nước nên dễ bị tác động bởi thời tiết và biến đổi khí hậu. Vào mùa khô, một số địa bàn không đủ nguồn nước để duy trì cấp nước.

Công trình cấp nước sinh hoạt tại thôn Thung Dao Bắc, xã Mường Động xuống cấp, không đáp ứng yêu cầu cấp nước cho người dân.
Thực tế tại các địa phương cho thấy, nhiều công trình đã có tuổi đời hàng chục năm. Theo danh mục rà soát, xã Tiền Phong có 6 công trình ngừng hoạt động, xã Tân Pheo có 8 công trình và xã Mường Động có 13 công trình ngừng vận hành. Nhiều công trình được đầu tư trong giai đoạn 1999 - 2005, số khác hình thành từ năm 2007 đến năm 2014.
Gỡ vướng để công trình phát huy hiệu quả
Bên cạnh khó khăn về hạ tầng và nguồn nước, công tác quản lý tài sản, hồ sơ công trình còn nhiều bất cập. Trong số 185 công trình đang hoạt động, có 42 công trình do đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp quản lý, 143 công trình do UBND cấp xã quản lý. Tuy nhiên, mới có 49 công trình có quyết định phê duyệt quyết toán, còn 136 công trình chưa có quyết định; 20 công trình đã được bàn giao tài sản, 165 công trình chưa được bàn giao hoặc không có đầy đủ hồ sơ bàn giao. Ngoài ra, 49 công trình chưa thực hiện theo dõi khấu hao tài sản.

Hệ thống bể chứa cấp nước tại thôn Hang Kia, xã Pà Cò được đầu tư hàng chục tỷ đồng từ nhiều năm trước nhưng hoạt động không hiệu quả do khó khăn về nguồn cấp nước.
Đối với các công trình ngừng hoạt động, có 348 công trình chưa có quyết định hoặc hồ sơ phê duyệt quyết toán; 379 công trình chưa được bàn giao hoặc không có hồ sơ bàn giao tài sản.
Theo đồng chí Hoàng Đình Tráng - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, một số công trình chưa hoàn tất thủ tục đầu tư, quyết toán, bàn giao; hồ sơ quản lý không được lưu giữ đầy đủ hoặc thất lạc qua các lần thay đổi tổ chức, nhân sự. Điều này gây khó khăn trong xác định hiện trạng, trách nhiệm quản lý, đồng thời cản trở việc xử lý tài sản và xây dựng phương án vận hành phù hợp.

Các công trình cấp nước sinh hoạt tự chảy tại xã Pà Cò chỉ bảo đảm cung cấp nước cho người dân khoảng 6 tháng/năm.
Rà soát, phân loại cụ thể từng công trình theo tình trạng hoạt động, mức độ xuống cấp và khả năng khôi phục là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Việc đánh giá cần làm rõ nguyên nhân ngừng vận hành, chất lượng nguồn nước, mức độ hư hỏng của hệ thống thu, dẫn, xử lý, phân phối nước và nhu cầu sử dụng thực tế của người dân. Đây là cơ sở để lựa chọn phương án sửa chữa, nâng cấp, khôi phục hoặc xử lý tài sản phù hợp.
Với những công trình còn khả năng khai thác, cần xác định hạng mục ưu tiên, dự toán kinh phí và đơn vị đủ năng lực tiếp nhận, vận hành. Những hệ thống xuống cấp nghiêm trọng, không còn phù hợp với điều kiện dân cư và nguồn nước hiện tại cần được đánh giá thận trọng, tránh đầu tư dàn trải. Tại địa bàn dân cư phân tán, địa hình phức tạp, giải pháp kỹ thuật phải tính đến khả năng duy trì nguồn nước mùa khô, an toàn công trình trong mùa mưa lũ và chi phí vận hành lâu dài.
Cùng với đó, cần đẩy nhanh việc hoàn thiện hồ sơ đầu tư, quyết toán, bàn giao và quản lý tài sản; xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, đơn vị và chính quyền địa phương đối với từng công trình. Việc giao quản lý phải gắn với năng lực chuyên môn, nhân lực, kinh phí bảo dưỡng, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm bảo đảm chất lượng nước.

Toàn tỉnh hiện có 407 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn ngừng hoạt động, chiếm 68,75% tổng số công trình.
Về lâu dài, tỉnh cần nghiên cứu mô hình quản lý phù hợp với quy mô và điều kiện từng địa bàn; xem xét tổ chức vận hành tập trung, liên xã hoặc liên vùng đối với những hệ thống có khả năng kết nối. Đồng thời, cần có cơ chế huy động nguồn lực sửa chữa, thay thế thiết bị, bảo vệ khu vực đầu nguồn và kiểm tra chất lượng nước thường xuyên.
Chi phí điện, nhân công, hóa chất xử lý, bảo dưỡng đường ống và thiết bị cần được tính toán đầy đủ để bảo đảm phương án vận hành khả thi. Đối với địa bàn khó khăn, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ phù hợp, giúp duy trì hoạt động công trình và bảo đảm khả năng tiếp cận nước sạch của người dân.
Tháo gỡ những điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nước và cơ chế quản lý không chỉ nhằm giảm số công trình ngừng hoạt động mà quan trọng hơn là bảo đảm người dân nông thôn, miền núi được sử dụng nước sạch an toàn, ổn định, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở vùng nông thôn, miền núi.
Mạnh Hùng
baophutho.vn Cùng với phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư và mở rộng quy mô sản xuất, nhu cầu sử dụng năng lượng trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng. Bảo...
Giá vàng thế giới phục hồi nhờ giá dầu hạ nhiệt, giúp giảm bớt lo ngại lạm phát. Trong nước, vàng miếng SJC giữ ổn định, một số thương hiệu điều chỉnh tăng đối với vàng nhẫn.
baophutho.vn Giữa tháng 10, những vườn bưởi ở xã Bằng Luân bắt đầu ngả sang sắc vàng óng ả. Trên những sườn đồi, quanh vườn nhà, từng chùm bưởi trĩu cành,...
baophutho.vn Những tháng cuối năm, các sở, ngành, đơn vị, địa phương tập trung thực hiện các giải pháp kịp thời tháo gỡ điểm nghẽn, đẩy nhanh giải ngân, đảm...
Giá cả thị trường ngày 27/10/2026
baophutho.vn Đền Mẫu Âu Cơ linh thiêng, Chiến khu cách mạng Vần - Hiền Lương ghi dấu lịch sử dân tộc, Đầm Vân Hội thơ mộng, Ao Giời - Suối Tiên kỳ thú, Hồ...
baophutho.vn Trong yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững, rừng đang được nhìn nhận không chỉ là “lá phổi xanh” mà còn là nguồn lực kinh tế quan trọng. Phú...