Cập nhật:  GMT+7

Bài 2: Những điểm sáng của kinh tế xanh

Khi mặt nước trước đây chủ yếu phục vụ thủy điện thì nay đã tạo sinh kế cho người dân với hàng nghìn lồng cá; khi những đồi chè không còn chỉ bán nguyên liệu thô mà bước vào chuỗi sản xuất tiêu chuẩn; khi nhiều dự án đầu tư phải vượt qua “bộ lọc” công nghệ và môi trường trước khi được chấp thuận... đó là lúc tăng trưởng xanh không còn là định hướng, mà được hiện diện bằng những chuyển động cụ thể trong từng ngành sản xuất, từng không gian phát triển.

Bài 2: Những điểm sáng của kinh tế xanh

Bài 2: Những điểm sáng của kinh tế xanh

Công ty TNHH Thuỷ sản Hải Đăng Group - một trong số những doanh nghiệp đi đầu về nuôi cá lồng trên vùng lòng hồ sông Đà.

Những mảng xanh trong cấu trúc kinh tế mới

Một trong những biểu hiện rõ nhất của tăng trưởng xanh ở Phú Thọ chính là sự thay đổi trong cách khai thác tài nguyên nông nghiệp, lâm nghiệp và mặt nước.

Trên vùng lòng hồ sông Đà - nơi trước đây chủ yếu được nhắc đến như không gian của thủy điện và khai thác tự nhiên thì nay những dãy lồng cá nối nhau trải dài đã tạo nên một diện mạo kinh tế mới. Với HTX Đà Giang Eco, hơn 40 lồng nuôi cùng mạng lưới liên kết trên 100 hộ dân không chỉ là mô hình sản xuất, mà là cách tổ chức lại sinh kế trên mặt nước theo hướng bài bản, hiệu quả hơn. Quy trình nuôi được kiểm soát chặt từ môi trường nước, mật độ nuôi đến phòng dịch bệnh; sản xuất được gắn với trải nghiệm du lịch, dịch vụ ẩm thực vùng hồ. Theo anh Xa Ngọc Hưng - Giám đốc HTX, cùng một mặt nước, nhưng khi được tổ chức theo hướng liên kết chuỗi và gia tăng giá trị, hiệu quả kinh tế tạo ra cao hơn rất nhiều so với phương thức khai thác manh mún trước đây.

Hiện toàn tỉnh có khoảng 6.450 lồng nuôi cá trên các thủy vực lớn; sản lượng thủy sản đạt trên 83 nghìn tấn; tỷ lệ giống đặc sản, giống có giá trị kinh tế cao chiếm hơn 68% cơ cấu nuôi. Nhiều vùng nuôi đã áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, liên kết chuỗi và gắn với dịch vụ du lịch. Tăng trưởng xanh, vì thế được nhận diện bằng việc người dân tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một tài nguyên, trong khi giảm áp lực lên môi trường.

Tại Long Cốc, những đồi chè mướt xanh không chỉ còn là vùng nguyên liệu. Ở HTX Sản xuất chè an toàn Long Cốc, gần 40ha chè liên kết đang được quản lý theo quy trình VietGAP; người dân cam kết hạn chế tối đa hóa chất, không sử dụng thuốc diệt cỏ. Bà Phạm Thị Hạnh - Giám đốc HTX cho biết, để giữ thương hiệu chè sạch, đơn vị kiểm soát chặt toàn bộ chuỗi sản xuất, đồng thời đầu tư dây chuyền hiện đại, tự động hóa khoảng 70% công đoạn chế biến.

Theo ngành Nông nghiệp và Môi trường, trên địa bàn tỉnh đã hình thành nhiều chuỗi giá trị chè tiêu biểu như chè Hương Bắc Sơn, TRI5.0; mức cơ giới hóa trong chăm sóc chè đạt 85%, thu hoạch đạt 86%. Nhờ vậy, cây chè giờ đây không chỉ cho ra búp chè tươi, mà còn cho ra sản phẩm OCOP, doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm, và quan trọng hơn, cho người trồng chè cơ hội sống tốt hơn trên chính đồi chè của mình.

Quá trình chuyển đổi xanh đang lan rộng trong toàn bộ khu vực nông nghiệp. Toàn tỉnh hiện có 112 hợp tác xã, 158 trang trại ứng dụng công nghệ cao; 46 doanh nghiệp đầu tư vào chăn nuôi công nghệ cao; nhiều mô hình tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái, sản xuất thân thiện môi trường đang được nhân rộng.

Cùng với nông nghiệp, tư duy xanh đang định hình lại cả không gian công nghiệp. Sau hợp nhất, Phú Thọ trở thành một trong những địa phương có quy mô phát triển công nghiệp lớn của vùng với 28 khu công nghiệp được thành lập, 17 khu đang hoạt động. Song điểm đáng chú ý không nằm ở số lượng, mà ở việc nhiều khu công nghiệp thế hệ mới đang được quy hoạch theo tiêu chí xanh ngay từ đầu: Hành lang cây xanh, mặt nước đệm sinh thái, hệ thống xử lý nước thải khép kín, giám sát môi trường tự động 24/7.

Ông Hoàng Long Biên - Giám đốc Ban Quản lý các KCN tỉnh khẳng định: Phú Thọ không chạy theo công nghiệp bằng mọi giá. Chuẩn môi trường được đặt ra ngay từ khâu quy hoạch, coi đó là điều kiện tiên quyết để lựa chọn nhà đầu tư và định hình không gian phát triển lâu dài.

Tư duy ấy đang làm thay đổi chất lượng dòng vốn đầu tư vào địa phương. Riêng quý I/2026, tỉnh thu hút khoảng 704 triệu USD vốn FDI và trên 9,6 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư trong nước; dòng vốn tập trung vào các lĩnh vực điện tử, linh kiện, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao - những ngành phù hợp với định hướng phát triển công nghiệp xanh, công nghiệp hiện đại.

Khi cảnh quan trở thành nguồn lực phát triển

Nếu sản xuất xanh tạo ra giá trị từ việc tổ chức lại tài nguyên, thì du lịch xanh là cách chuyển hóa chính cảnh quan và hệ sinh thái thành động lực phát triển kinh tế.

Bài 2: Những điểm sáng của kinh tế xanh

Toàn cảnh một khu đô thị sinh thái ven mặt nước tại xã Liên Sơn, nơi cảnh quan tự nhiên được khai thác theo hướng nghỉ dưỡng, góp phần chuyển hóa tài nguyên thành giá trị kinh tế bền vững.

Sau hợp nhất, Phú Thọ sở hữu không gian du lịch rộng lớn với hệ tài nguyên đa dạng hiếm có trong khu vực: Suối khoáng nóng Thanh Thủy, Vườn quốc gia Xuân Sơn, vùng chè Long Cốc, hồ Hòa Bình cùng hệ thống di sản văn hóa, tâm linh đặc sắc. Nhiều lợi thế từng chỉ dừng ở dạng tiềm năng nay đang được tái cấu trúc thành các cụm sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, trải nghiệm cộng đồng và du lịch nông nghiệp.

Tại vùng đệm Vườn quốc gia Xuân Sơn, các mô hình du lịch cộng đồng đang phát triển ngày càng rõ nét với homestay nhà sàn, trải nghiệm văn hóa Dao - Mường, trekking rừng nguyên sinh, khám phá hang động, ẩm thực bản địa. Việc người dân tham gia trực tiếp vào chuỗi dịch vụ du lịch không chỉ tạo thêm sinh kế mà còn biến việc bảo tồn cảnh quan, giữ gìn văn hóa thành lợi ích kinh tế cụ thể đối với cộng đồng.

Ở Thanh Thủy, nguồn khoáng nóng tự nhiên đang trở thành nền tảng cho hệ sinh thái dịch vụ nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, lưu trú quy mô lớn. Tại Long Cốc, những đồi chè không chỉ là vùng nguyên liệu nông nghiệp mà từng bước trở thành điểm đến trải nghiệm, nơi du khách vừa ngắm cảnh, vừa tìm hiểu quy trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm tại chỗ.

Theo ông Đặng Tuấn Hùng - Trưởng phòng Quản lý du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giai đoạn 2021 - 2025, du lịch Phú Thọ thu hút trên 54 triệu lượt khách; doanh thu du lịch tăng bình quân 26,3%/năm. Những con số đó cho thấy cảnh quan, môi trường sinh thái và bản sắc văn hóa đang từng bước được chuyển hóa thành tài sản phát triển thực sự.

Từ những lồng cá trên lòng hồ, những đồi chè tiêu chuẩn hóa, những khu công nghiệp đặt chuẩn môi trường lên hàng đầu đến những điểm du lịch sinh thái ngày càng đông khách, tăng trưởng xanh ở Phú Thọ đang hiện lên bằng những lát cắt rất cụ thể của đời sống kinh tế. Và khi giá trị gia tăng được tạo ra không phải bằng khai thác nhiều hơn, mà bằng tổ chức lại tốt hơn những nguồn lực đang có, đó cũng là lúc tăng trưởng xanh không còn là xu hướng. Nó đang trở thành một phương thức phát triển mới của nền kinh tế.

(Còn tiếp Bài 3: Để kinh tế xanh trở thành động lực tăng trưởng mới)

Tin liên quan:
  • Bài 2: Những điểm sáng của kinh tế xanh
    Phú Thọ trên hành trình tăng trưởng xanh

    Trong nhiều năm, tăng trưởng thường được đo bằng số dự án thu hút được, số nhà máy mọc lên, sản lượng nông sản thu hoạch hay tốc độ GRDP mỗi năm. Nhưng khi áp lực môi trường, biến đổi khí hậu và giới hạn tài nguyên ngày càng hiện hữu, câu hỏi đặt ra không còn là tăng trưởng nhanh đến đâu, mà là tăng trưởng bằng cách nào để không đánh đổi tương lai.

Nguyễn Yến


Nguyễn Yến

 {name} - {time}
{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Xem thêm

Tin liên quan

Gợi ý

POWERED BY
Việt Long