Cập nhật:  GMT+7

Kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng (1/3/1906-1/3/2026)

Cốt cách thanh tao, trí tuệ mẫn tiệp của Nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng

Cốt cách thanh tao, trí tuệ mẫn tiệp của Nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng

Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các chiến sĩ công an nhân dân trong ngày ngành Công an đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (ngày 5/1/1980). Ảnh tư liệu: TTXVN

Đồng chí Phạm Văn Đồng là nhà lãnh đạo tài ba, đức độ, nhà văn hóa xuất sắc, mẫu mực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Rất nhiều năm, ông giữ các cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; 32 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ.

Dù ở cương vị nào, trong hoàn cảnh nào, ông đều hết lòng, tận sức vì nước vì dân, chí công vô tư, cần kiệm liêm chính, trí tuệ và bản lĩnh, giản dị và thanh tao, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng và Nhân dân giao phó. Cao hơn cả, ông là người học trò xuất sắc, người bạn chiến đấu tin cậy, quý mến, thân thương của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nói rất nhiều điều về ông, trong bài viết nhỏ này, chúng tôi xin được nói về Nhà văn hóa xuất sắc, mẫu mực Phạm Văn Đồng.

1. Đi theo con đường cách mạng của Bác Hồ

Đồng chí Phạm Văn Đồng sinh ra và sống tuổi ấu thơ trong một gia đình có truyền thống hiếu học, lễ nghĩa. Từ nhỏ, ông được dạy dỗ và tự bồi đắp kiến thức, tri thức, nền tảng văn hóa của mình bằng bề dày truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng của quê hương Quảng Ngãi, của dải đất miền trung, của Tổ quốc Việt Nam và tiếp nhận cả tinh hoa văn hóa Pháp, sau này là tinh hoa văn hóa nhân loại.

Chính nhờ nền tảng ban đầu rất quan trọng đó, người thanh niên yêu nước Phạm Văn Đồng sớm giác ngộ lý tưởng cao đẹp mà nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc và những trí thức đáng kính lúc đó đã truyền bá một cách sinh động, lôi cuốn trong “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” (gửi tới Hội nghị Versailles ở Pháp, 1919); các bài viết trên báo Le Paria (Người cùng khổ), L’Humanité (Nhân đạo), La Vie Ouvrière (Đời sống thợ thuyền), Le Populaire (Dân chúng), Tạp chí Inprekorr (Thư tín quốc tế)...

Năm 1926, Phạm Văn Đồng được người của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đưa sang Quảng Châu, Trung Quốc để dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy.

Đồng chí được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được gần gũi hơn với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, được hun đúc khát vọng cháy bỏng từ người thầy lớn của mình: Kiên quyết, bền bỉ đấu tranh giành độc lập cho đất nước, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.

Từ đầu năm 1927, Phạm Văn Đồng từ Quảng Châu về Hà Nội, sau đó vào hoạt động ở Sài Gòn, được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Nam Kỳ; đầu tháng 5/1929, Phạm Văn Đồng sang Hồng Kông, tham dự Đại hội I, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành của Hội.

Tiếp đó là các hoạt động yêu nước đầy gian khổ, quả cảm ở Trung Kỳ, Nam Kỳ, bị mật thám Pháp bắt, bị kết án 10 năm tù giam, được ra tù tháng 6/1936 nhờ kết quả đấu tranh của nhân dân ta và sự ủng hộ của Mặt trận Bình dân Pháp đòi thả tù chính trị ở Đông Dương.

Tháng 9/1939, Phạm Văn Đồng gặp Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, sau đó sang hoạt động ở Trung Quốc. Tháng 5/1940, Ban Chỉ huy ở ngoài nước bố trí cho hai đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Côn Minh. Cuối năm 1940, do tình hình thế giới có những biến chuyển tích cực, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên biên soạn chương trình huấn luyện cán bộ, viết các bài giảng và tổ chức lớp đào tạo ngắn hạn cho các thanh niên từ trong nước sang.

Đầu năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước nhà. Trong rất nhiều công việc quan trọng và cần kíp, Người ưu tiên trước hết cho công tác tuyên truyền, vận động quần chúng; huấn luyện đội ngũ cốt cán ở các thôn, bản; cho ra tờ báo bí mật, in thủ công do Người làm chủ bút mang tên “Việt Nam độc lập” với sự trợ giúp đắc lực của Phạm Văn Đồng và một số đồng chí khác.

Ngày 15/8/1945, tại Tân Trào, Đại hội Quốc dân họp, triển khai Nghị quyết của Đảng về Tổng khởi nghĩa và quyết định thành lập Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam (Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch; Phạm Văn Đồng là Ủy viên Ủy ban.

Tại cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Phạm Văn Đồng đắc cử Đại biểu Quốc hội và làm đại biểu Quốc hội liên tục 41 năm, cho đến năm 1987. Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 82/SL cử Phạm Văn Đồng làm Trưởng Đoàn đại biểu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Chính phủ Pháp tại Fontainebleau về quan hệ Việt-Pháp, trong đó hai vấn đề cốt tử: Độc lập chính trị và thống nhất đất nước Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sang Pháp trong dịp này với tư cách là thượng khách của nước Pháp và theo dõi sát sao cuộc đàm phán. Cuộc đàm phán kéo dài đến tháng 10/1946, nhưng không thành, do Chính phủ Pháp không chịu chấp nhận một nền độc lập, thống nhất, hòa bình ở Việt Nam. Đồng chí Phạm Văn Đồng về nước tham gia kháng chiến, hoạt động tại Trung Bộ, rồi về công tác tại Trung ương.

Năm 1947, đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng; tháng 7/1949, được cử làm Phó Thủ tướng Chính phủ. Hội nghị Genève về Đông Dương từ ngày 8/5 đến 21/7/1954, Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng - Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao dẫn đầu tham dự Hội nghị. Tháng 9/1954, đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng. Liên tục từ tháng 9/1955 đến năm 1987, đồng chí Phạm Văn Đồng là Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

2. Nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng

Đi theo con đường cách mạng và ánh sáng văn hóa đặc sắc Hồ Chí Minh; cùng chung lý tưởng cộng sản đầy tính nhân đạo, nhân văn với thế hệ vàng đầu tiên của cách mạng Việt Nam như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Nguyên Giáp...

Phạm Văn Đồng luôn hội tụ nơi mình vừa hài hòa vừa đằm sâu nhà chính trị bản lĩnh, chuyên nghiệp; nhà ngoại giao tài ba, lịch lãm; nhà văn hóa thông tuệ, uyên bác.

Phạm Văn Đồng nói về văn hóa hết sức giản dị và minh triết: “Văn hóa là quá trình con người và cộng đồng con người ở từng nơi và ở mọi nơi đoàn kết và phấn đấu qua biết bao gian khổ và hy sinh để từng bước, từng phần tự khẳng định mình, từng bước, từng phần thoát khỏi thân phận bị tha hóa, dần dần trở thành con người tự do”[1]; văn hóa là quá trình “hiểu biết, khám phá và sáng tạo”.

Đi theo con đường cách mạng và ánh sáng văn hóa đặc sắc Hồ Chí Minh; cùng chung lý tưởng cộng sản đầy tính nhân đạo, nhân văn với thế hệ vàng đầu tiên của cách mạng Việt Nam như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Nguyên Giáp... Phạm Văn Đồng luôn hội tụ nơi mình vừa hài hòa vừa đằm sâu nhà chính trị bản lĩnh, chuyên nghiệp; nhà ngoại giao tài ba, lịch lãm; nhà văn hóa thông tuệ, uyên bác.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Phạm Văn Đồng là nhà ngoại giao tài ba, bản lĩnh, sắc sảo, luôn thể hiện lập trường chính trị, quyền lợi đất nước, các giá trị phổ quát của nhân loại theo phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.

Trên cương vị Trưởng đoàn Việt Nam tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng của Việt Nam, ba nước Đông Dương, của khu vực và quốc tế như Hội nghị Fontainebleau (1946), Hội nghị Genève (1954), Hội nghị các nước Á-Phi họp ở Indonesia (1955), các hội nghị cấp cao của Phong trào không liên kết; xây dựng và xử lý thỏa đáng, tinh tế mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó và các nước lớn khác như Mỹ, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản...

Cốt cách thanh tao, trí tuệ mẫn tiệp của Nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng

Nhà vua Carl XVI Gustaf tiếp thân mật Thủ tướng Phạm Văn Đồng thăm Thụy Điển, ngày 11/4/1974, tại Hoàng cung ở thủ đô Stockholm. Ảnh: Văn Bảo /TTXVN

Phạm Văn Đồng đặc biệt coi trọng ngoại giao nhân dân sát cánh cùng đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước; kế thừa và phát triển văn hóa dân tộc trong chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Bằng nền tảng văn hóa dân tộc, bằng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, lấy nhân nghĩa, chính nghĩa, hòa hiếu, nhân văn làm căn cốt, Phạm Văn Đồng đã góp phần mở mặt trận ngoại giao của Việt Nam trong lòng nước Pháp, nước Mỹ và nhiều nước phương Tây khác.

Phạm Văn Đồng rất tâm đắc với câu nói của Jean Jaurès, lãnh tụ xã hội chủ nghĩa Pháp nổi tiếng: “Một ít chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta xa rời chủ nghĩa quốc tế, nhưng rất nhiều chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta vào trung tâm của chủ nghĩa quốc tế”[2].

Về khái niệm “Đổi mới” và “công cuộc Đổi mới” do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI (1986), Phạm Văn Đồng cho rằng “Đổi mới” là một cuộc cách mạng; là xây dựng một nền kinh tế mới, một nền văn hóa mới, làm cho đời sống của nhân dân ngày càng ấm no, tự do, dân chủ, hạnh phúc, hướng tới mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong cuốn sách “Văn hóa và đổi mới”[3] Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: Công cuộc Đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhất thiết phải bắt đầu từ ngọn nguồn văn hóa.

Đó là truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại. Đổi mới phải dựa trên một nền tảng văn hóa bền vững và tiến bộ; đổi mới vì con người, cho con người.

“Chiến lược con người là sự kết hợp hài hòa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội trong đó văn hóa, xã hội nhập vào kinh tế như một nhân tố bên trong, hơn thế nữa, như mục tiêu và động lực của tăng trưởng kinh tế. Sự kết hợp hữu cơ này là một nét truyền thống thể hiện bản sắc của dân tộc ta, một nội dung cơ bản trong định hướng xã hội chủ nghĩa của chế độ ta, phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại ngày nay”[4]. Văn hóa phải được gắn kết chặt chẽ với chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Khi nói về tính chất và đóng góp của văn hóa, văn nghệ với đời sống xã hội, Phạm Văn Đồng nhận định: “Trong các phương thức để tiến hành giáo dục tư tưởng, thì văn hóa, văn nghệ có tác dụng sâu sắc, thấm thía, lâu bền bậc nhất”[5].

Phạm Văn Đồng lưu ý: Chức năng cơ bản của văn hóa, văn nghệ là “hiểu biết, khám phá và sáng tạo”, là “nhân tố có tầm quan trọng bậc nhất góp phần không chỉ làm nên sự nghiệp của một con người, mà còn là động lực làm nên lịch sử của một dân tộc, của cả loài người”[6].

Theo phân tích của ông, văn hóa là cái đẹp, có thiên chức sáng tạo, điều tiết, nuôi dưỡng, nhân lên cái đẹp, cái cao cả, đẩy lùi cái xấu xa, cái thấp hèn. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng phải là một xã hội tốt đẹp, nhân văn, mang lại sự phát triển toàn diện và hạnh phúc cho con người.

Phạm Văn Đồng mong muốn anh chị em trí thức, văn nghệ sĩ “phải sống với cuộc chiến đấu, sống với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nghĩa là sống cái hiện thực vĩ đại nhất của nhân dân ta, mà đồng thời cũng là hiện thực vĩ đại của nhân dân thế giới”[7].

“Theo tôi hiểu thì sáng tạo đối với các đồng chí là phản ánh được cái mới trong xã hội, làm sao cho mọi người thấy được cái nụ, cái chồi, cái bông hoa mới của chủ nghĩa xã hội đương xuất hiện trong đời sống của xã hội và trong tâm hồn của con người”[8].

Vì lẽ đó, theo Phạm Văn Đồng, người nghệ sĩ phải tạo cho mình “một phong cách độc đáo”, “phải lắng nghe cái gì sâu xa nhất trong con người của mình, bồi dưỡng cho mình một bản lĩnh vững vàng, một phong cách độc đáo, vì nghệ thuật không phải là sản phẩm được sản xuất hàng loạt như sản xuất công nghiệp. Hãy suy nghĩ lời khuyên của Goóc-ki: Bạn hãy giữ lấy cái gì là riêng của mình, hãy săn sóc làm sao cho nó phát triển tự do. Lúc một người không có cái gì là riêng của mình, thì phải thấy ở người đó chẳng có gì hết”[9].

Cốt cách thanh tao, trí tuệ mẫn tiệp của Nhà văn hóa lớn Phạm Văn Đồng

Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Hội nghị Geneva năm 1954. Ảnh: Võ Năng An/TTXVN

Cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước lúc đó, Phạm Văn Đồng là người có kiến thức sâu rộng đến độ uyên bác về tiếng Việt và luôn đau đáu về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Có nhiều câu chuyện, nhiều nội dung liên quan đến vấn đề này, xin nêu ra vài ba thí dụ. Trong 2 ngày 7 và 10/2/1966, khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gợi ý Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Ngôn ngữ học và các cơ quan liên quan tổ chức Hội nghị “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” tại Hà Nội và có bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị. Thủ tướng nói một điều sâu xa, xúc động: Máy bay Mỹ đang ném bom dữ dội ở Khu Bốn và các nơi khác, tàn phá các làng mạc, trường học, khu dân cư. Họ muốn tiêu diệt chúng ta. Còn chúng ta, hôm nay, với sự điềm tĩnh của những con người đầy tự tin vào chính mình, vào sự tất thắng của chính nghĩa, họp mặt tại đây để bàn về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tiếng Việt còn thì dân tộc ta còn. Dân tộc ta còn thì dân tộc ta sẽ chiến thắng.

“Tiếng Việt của chúng ta rất giàu; tiếng ta giàu bởi đời sống muôn màu, đời sống tư tưởng và tình cảm dồi dào của dân tộc ta; bởi kinh nghiệm đấu tranh lâu đời và phong phú, kinh nghiệm đấu tranh giai cấp, đấu tranh xã hội, đấu tranh với thiên nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm, bởi những kinh nghiệm sống của bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Tiếng Việt chúng ta phản ánh sự hình thành và trưởng thành của xã hội Việt Nam và của dân tộc Việt Nam, của tập thể nhỏ là gia đình, họ hàng, làng xóm và của tập thể lớn là dân tộc, quốc gia”[10]...

“Tiếng Việt chúng ta rất đẹp; đẹp như thế nào, đó là điều rất khó nói. Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹp như thế nào cũng như ta không thể nào phân tích cái đẹp của ánh sáng, của thiên nhiên. Nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam, chúng ta cảm thấy và thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng nước ta, tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn lớn. Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý là vĩ đại, nghĩa là rất đẹp”[11]. Mười ba năm sau, ngày 29/1/1979, cũng tại Thủ đô Hà Nội, một hội nghị có nội dung và tầm quan trọng như hội nghị năm 1966 được tổ chức.

Ở cả hai hội nghị, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị mọi cơ quan, đơn vị và mọi người phải nhận thức thật đầy đủ, thật sâu sắc tầm quan trọng của công tác giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; cách nói, cách viết đúng đắn tiếng ta; lưu ý việc một số tổ chức, cá nhân sử dụng tiếng Việt chưa tốt. Thủ tướng đề nghị ba khâu công việc cần làm: “Một là giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta (tôi không muốn dùng chữ “từ vựng”). Hai là nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta (tôi muốn thay chữ “ngữ pháp”). Ba là giữ gìn bản sắc, tinh hoa, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn nghệ, chính trị, khoa học, kỹ thuật...). Tất nhiên, khâu thứ ba có dính với hai khâu trên, nhưng nó rộng hơn nhiều và cũng quan trọng hơn nhiều”[12].

Phạm Văn Đồng được chúng ta yêu kính, biết ơn do những công lao to lớn của ông vì Nước, vì Đảng, vì Dân. Phạm Văn Đồng sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta do ông để lại một tấm gương sáng ngời của người cộng sản chân chính; một tấm gương sáng ngời về cốt cách, tầm cao văn hóa, giản dị, lão thực, khiêm nhường mà vĩ đại, thân thương.

---------------------------------------------------------

[1] Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.11.

[2] Phạm Văn Đồng và Ngoại giao Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia 2006, trang 108.

[3] Sách đã dẫn.

[4] Phạm Văn Đồng: Văn hóa và đổi mới, Sđd, tr. 85.

[5] Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, Nxb. Văn học, 1973, tr.45.

[6] Phạm Văn Đồng: Về vấn đề giáo dục-đào tạo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.6.

[7] Phạm Văn Đồng: Xây dựng nền văn hóa văn nghệ ngang tầm với dân tộc ta, thời đại ta, Nxb. Sự thật, 1975, tr.124.

[8] Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ, Sđd, tr.51.

[9] Phạm Văn Đồng trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.752.

[10] Phạm Văn Đồng: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3, 1966.

[11] Phạm Văn Đồng: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số 1, 1980.

[12] Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta nhân dân ta sự nghiệp ta và người nghệ sĩ (in lần thứ 5 có sửa chữa, bổ sung), Nxb Văn học, Hà Nội, 1983.

Theo nhandan.vn


Theo nhandan.vn

 {name} - {time}
{body}
 {name} - {time}
{body}

0 bình luận

Ý kiến của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu

Xem thêm

Tin liên quan

Gợi ý

POWERED BY
Việt Long