{title}
{publish}
{head}
Mới đây, trên một số nền tảng mạng xã hội xuất hiện luận điệu cho rằng sự giàu nghèo của một quốc gia chủ yếu do thể chế quyết định; viện dẫn hai ví dụ là Israel và Nhật Bản được cho là phát triển nhờ “thể chế đúng”, trong khi Việt Nam dù “rừng vàng biển bạc” vẫn chậm phát triển vì “chọn sai thể chế”. Đây là cách lập luận phiến diện đến ấu trĩ, lệch lạc, giản đơn hóa vấn đề phát triển quốc gia, hàm chứa dụng ý xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Trong bài viết “Israel, Nhật Bản và Việt Nam là minh chứng cho thể chế quyết định quốc gia giàu hay nghèo” đăng tải trên fanpage của tổ chức phản động - nơi liên tục có các bài viết mang luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, bôi nhọ lãnh đạo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, có nội dung: “Thể chế tức hệ thống chính trị, kinh tế, pháp quyền và văn hóa là yếu tố quyết định sự giàu nghèo của một quốc gia, vượt xa tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa lý. Hai ví dụ điển hình là Israel và Nhật Bản, cả hai đều thiếu tài nguyên, từng đứng trước diệt vong, nhưng nhờ thể chế dân chủ, kinh tế thị trường tự do và văn hóa đổi mới đã vươn lên thành cường quốc. Ngược lại, Việt Nam sở hữu rừng vàng, biển bạc nhưng chọn thể chế sai lầm nên vẫn nghèo đói...”.

Luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.
Trên thực tế, không có quốc gia nào giàu mạnh chỉ vì một yếu tố duy nhất là thể chế. Sự phát triển của mỗi quốc gia là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Lịch sử chiến tranh hay hòa bình, vị trí địa chính trị, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị quốc gia, mức độ hội nhập quốc tế, khả năng tận dụng cơ hội phát triển và sự đồng thuận xã hội. Vì vậy, quy toàn bộ sự phát triển hay tụt hậu của một quốc gia cho một yếu tố duy nhất là thể chế không chỉ thiếu cơ sở khoa học mà còn phản ánh tư duy suy diễn đơn tuyến, góc nhìn phiến diện, lệch lạc.
Thực tiễn phát triển thế giới cho thấy không tồn tại một mô hình thể chế duy nhất bảo đảm sự thịnh vượng. Nhiều quốc gia có thể chế tương đồng nhưng kết quả phát triển rất khác nhau; ngược lại, có những quốc gia với điều kiện thể chế khác nhau vẫn đạt được thành tựu đáng kể. Điều đó khẳng định yếu tố quyết định không phải mô hình thể chế nào, mà là khả năng lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc trong từng giai đoạn cụ thể. Việc viện dẫn Israel như một minh chứng cho luận điểm “thể chế quyết định tất cả” cũng là sự so sánh thiếu toàn diện, thậm chí cố tình làm sai lệch, đánh tráo khái niệm.
Chúng ta đều biết, Israel là quốc gia có điều kiện địa chính trị đặc biệt, trong nhiều thập niên nhận được nguồn viện trợ chiến lược quy mô lớn từ các đồng minh, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh; đồng thời thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao từ nhiều quốc gia phát triển. Nền khoa học, công nghệ tiên tiến cùng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh mẽ đã tạo ra những điều kiện thuận lợi mà không phải quốc gia nào cũng có được. Vì vậy, coi sự phát triển của Israel chỉ là kết quả của “thể chế” là cách nhìn đơn giản hóa một thực tiễn phức tạp.
Tương tự, sự phát triển của Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng không thể tách rời bối cảnh quốc tế đặc biệt của thời kỳ hậu chiến. Nhật Bản được hỗ trợ tái thiết kinh tế với quy mô lớn, đồng thời được bảo đảm môi trường an ninh thuận lợi trong nhiều thập niên để tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế. Quan trọng hơn, mô hình phát triển của Nhật Bản không phải là mô hình thị trường tự do thuần túy, mà là sự kết hợp hài hòa giữa vai trò định hướng mạnh mẽ của Nhà nước, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền tảng văn hóa xã hội kỷ luật cao. Do đó, việc lấy Nhật Bản làm ví dụ để khẳng định rằng chỉ cần “lựa chọn thể chế phù hợp” là có thể trở thành cường quốc là cách lập luận thiếu cơ sở thực tiễn.
Quan điểm cho rằng Việt Nam “có rừng vàng, biển bạc nên đáng lẽ phải giàu” là một cách nhìn cảm tính, không phù hợp với thực tiễn phát triển của thế giới hiện đại. Lịch sử kinh tế quốc tế cho thấy nhiều quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng vẫn rơi vào trì trệ kéo dài. Trong khoa học phát triển, hiện tượng này được gọi là “lời nguyền tài nguyên”. Điều đó chứng minh rằng tài nguyên thiên nhiên không phải là yếu tố quyết định sự thịnh vượng nếu thiếu chiến lược phát triển phù hợp và năng lực quản trị hiệu quả. Ngược lại, nhiều quốc gia gần như không có tài nguyên vẫn vươn lên mạnh mẽ nhờ đầu tư vào giáo dục, khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, lấy yếu tố tài nguyên để suy luận trực tiếp về mức độ phát triển của một quốc gia là cách lập luận thiếu cơ sở khoa học.
Quan trọng hơn, khi so sánh trình độ phát triển giữa các quốc gia, cần đặt trong cùng một hệ quy chiếu lịch sử. Liên tiếp bị đô hộ, ngoại xâm bởi các quốc gia có tiềm lực quân sự, kinh tế vượt trội, năm 1975, Việt Nam bước ra khỏi chiến tranh với nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn lực tích lũy gần như không đáng kể, đồng thời phải đối mặt với bao vây, cấm vận kéo dài trong nhiều năm. Trong điều kiện đó, việc khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội đã là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Do đó, so sánh Việt Nam với những quốc gia có điều kiện lịch sử thuận lợi hơn mà không đặt trong cùng một hệ quy chiếu là thiếu khách quan và không phản ánh đúng bản chất vấn đề.
Thực tiễn qua bốn thập niên đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng và Nhân dân ta lựa chọn. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ nghèo cùng cực của Việt Nam đã giảm từ khoảng 45% đầu những năm 1990 xuống khoảng 1,3% hiện nay, thuộc nhóm giảm nhanh nhất thế giới. Trong hơn hai thập niên qua, khoảng 30 triệu người Việt Nam đã thoát nghèo. GDP hiện nay đã vượt mốc 510 tỷ USD, kim ngạch thương mại năm 2025 đạt khoảng 920 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người trên 5.000 USD/năm. Quy mô kinh tế thuộc nhóm 32 nước lớn nhất thế giới và thương mại nằm trong top 20. Độ mở thương mại đạt 160–180% GDP, cho thấy Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế hội nhập sâu rộng với thế giới.

Việt Nam có bước phát triển vượt bậc, quy mô kinh tế đã thuộc nhóm 32 nước lớn nhất thế giới.
Về đối ngoại, Việt Nam đã phát triển quan hệ với tất cả 195 quốc gia ở các châu lục trên thế giới; cùng với đó là mạng lưới đối tác với hơn 40 quốc gia - từ đối tác toàn diện đến đối tác chiến lược và chiến lược toàn diện, trong đó mức đối tác cao nhất bao gồm tất cả 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các đối tác chủ chốt của Việt Nam.
Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến nhiều bất ổn về chính trị, xung đột và khủng hoảng kinh tế, việc giữ vững ổn định xã hội đồng thời duy trì tăng trưởng liên tục là một thành tựu có ý nghĩa chiến lược. Thực tiễn cho thấy, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam không chỉ được thể hiện qua những chỉ số phát triển, con số tăng trưởng, mà quan trọng và cốt yếu nhất vẫn là đường hướng phát triển của đất nước luôn hướng đến một xã hội tốt đẹp, phản ánh khát vọng của dân tộc và xu thế chung của nhân loại tiến bộ.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có...”
Đối với Việt Nam, con đường phát triển gắn với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn mang tính lịch sử của dân tộc, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng và thực tiễn phát triển đất nước. Những thành tựu đạt được trong bốn thập niên đổi mới là minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu giản đơn hóa vấn đề phát triển quốc gia và cố tình xuyên tạc con đường đi lên của đất nước ta.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược ngày càng phức tạp hiện nay, việc giữ vững niềm tin vào con đường phát triển đã lựa chọn, đồng thời tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia là yêu cầu cấp thiết để đất nước tiếp tục phát triển nhanh và bền vững.
Những luận điệu so sánh phiến diện, ấu trĩ, suy diễn đơn giản nhằm phủ nhận thành tựu của Việt Nam cần được nhận diện rõ và phản bác kịp thời, góp phần củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận và tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Trung Tín
Trong ngày 10/4, Quốc hội khóa XVI sẽ bàn về thuế bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay; công tác thực hành tiết...
baophutho.vn Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, sáng 9/4, Quốc hội khóa XVI đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về 4 dự án luật: Luật Hộ tịch (sửa...
baophutho.vn Không chờ đến khi sai phạm xảy ra, tỉnh Phú Thọ đang chủ động “bịt kín kẽ hở”, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ ngay từ đầu. Cùng với việc...
baophutho.vn Chiều 9/4, đồng chí Bùi Văn Quang - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy chủ trì hội nghị nghe các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy...
baophutho.vn Thấm nhuần tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cô giáo Trương Thị Việt Hồng - giáo viên Trường THPT Bình Xuyên (xã Bình Xuyên) luôn nêu...
baophutho.vn Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân...
baophutho.vn Bám sát đặc thù địa bàn hoạt động - nơi nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của người dân luôn lớn và đa dạng, Chi bộ Agribank Chi nhánh...