{title}
{publish}
{head}
Thư gửi mẹ
Thưa mẹ!
Con về với mẹ đây
Những ngọn gió thổi qua vườn cuối hạ
Lá xôn xao những cánh thư thầm
*
Chiến tranh đã tắt cuối con đường
Cau vẫn rụng vào những chiều thương nhớ
Bầy sẻ nâu đã bao mùa sinh nở
Con đã về, mẹ có thấy con không
*
Cỏ đã lên mầm trên những hố bom
Ôi Tổ quốc lại một lần đứng dậy
Gió thổi suốt bốn nghìn năm và mẹ
Nước mắt đầy trên những vết nhăn
*
Con đã về với mẹ, chiều nay
Mà mẹ không nhìn thấy
Con mèo thay con thức cùng với mẹ
Lặng im theo bóng mẹ lưng còng
*
Chiến tranh qua rồi và mãi mãi con tin
Con ngủ quên dưới cánh rừng lá bạc
Khi gió thổi là con tỉnh giấc
Theo đường gió con về ngắm mẹ sau lưng
*
Viên bi tròn vẫn lăn mãi qua sân
Cần câu cũ buông vào từng kỷ niệm
Cánh diều giấy trẻ con làng lại thả
Tiếng sáo trăng tìm đến ngõ nhà mình
*
Con đã về rón rén bước chân
Như thủa nhỏ để oà trong nức nở
Con đã về mẹ bớt ho mẹ nhé
Bông hoa đèn lại nở sáng trong đêm
*
Có tiếng gà gọi mẹ góc vườn xa
Con vẫn thế hò reo chùm khế ngọt
Cau lại trổ mẹ ơi cau sẽ bổ
Trong cơn mê tiếng trẻ nói vang nhà
*
Chiến tranh qua rồi và mãi mãi con tin
Con không chết, con chỉ không lớn nữa
Và con sống suốt đời mười tám tuổi
Như buổi chiều chào mẹ con đi
*
Con đã vào đến bếp nhà ta
Ngồi bên mẹ xoè tay hơ trước lửa
Niêu tép mẹ kho suốt đời không thể nguội
Cơm đang cười mẹ có thấy con không
*
Đũa vẫn so thừa cả những bữa cơm đông
Cánh cửa cũ chần chừ đêm gió lạ
Mẹ ơi mẹ, mẹ đừng ngồi khuya quá
Mẹ đừng ngồi vấn tóc mãi trong đêm
*
Những quả khế vàng rụng kín cả mùa thu
Mẹ thêu áo buổi chiều ra quét ngõ
Chim khách kêu rung từng chân tóc mẹ
Con đã về mẹ có bớt ho đêm
*
Con đã về trong tiếng sấm tháng Tư
Hoa gạo đỏ con cười trong tiếng gió
Con đã về trong mùa gặt hái
Cơm mới thơm như con đứng cười thầm
*
Con đã về lửa tí tách trong rơm
Soi mặt mẹ tự hào và thương nhớ
Con đã về khi làng vui đón Tết
Hoa đào xoè những chúm môi thơm
*
Chiến tranh qua rồi và mãi mãi mẹ ơi
Đồng đội con trở về với thư con viết dở
Ôi lá thư chỉ một câu gọi mẹ
Là lá thư dài nhất ở trên đời.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (sinh năm 1957), quê ở Làng Chùa, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa (nay thuộc TP Hà Nội), hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, là cây bút đa tài ở nhiều thể loại. Dù thành công trên nhiều lĩnh vực, thơ vẫn là địa hạt khẳng định tên tuổi ông. Tập thơ “Sự mất ngủ của lửa” từng được trao Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993. “Thư gửi mẹ” là một trong những tác phẩm tiêu biểu, góp phần làm nên dấu ấn riêng của ông trong dòng thơ hiện đại Việt Nam.
Mượn hình thức một bức thư, bài thơ tái hiện tiếng nói của người lính đã hy sinh khi mới 18 tuổi, gửi đồng đội chuyển về cho mẹ nơi quê nhà. Không gian ký ức được mở ra bằng những hình ảnh gần gũi, bình dị: hoa đào, cần câu, viên bi, cánh diều, tiếng sáo, bếp lửa, quả cau, bầy sẻ nâu... Tất cả đan cài trong dòng hồi tưởng da diết của người con đã ngã xuống vì Tổ quốc nhưng vẫn hướng trọn về mẹ, về quê hương: “Khi gió thổi là con tỉnh giấc/ Theo đường gió con về ngắm mẹ sau lưng”.
Chính sự thấu hiểu nỗi lòng người mẹ mòn mỏi đợi con đã giúp nhà thơ kiến tạo nên một “lá thư tưởng tượng” đầy ám ảnh. Ở đó, cái chết không phải là kết thúc, mà trở thành một dạng tồn tại khác - tồn tại trong ký ức, trong tình yêu thương và trong những gì bình dị nhất của đời sống.
“Thư gửi mẹ” được viết theo thể thơ tự do, giọng điệu thủ thỉ, giàu tính tự sự. Ngôn ngữ không cầu kỳ, không bi lụy nhưng lại lay động sâu sắc. Lối độc thoại xuyên suốt - “Thưa mẹ/ Con về với mẹ đây.../ Chiến tranh qua rồi và mãi mãi mẹ ơi” - tạo nên cảm giác như người con vẫn hiện hữu, vẫn trở về, dù thực chất chỉ còn trong lá thư “viết dở” được đồng đội mang về.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.
Bài thơ không ghi thời điểm sáng tác cụ thể, người đọc chỉ hiểu theo “tâm sự” của người con trong thư “ Con đã về với mẹ, chiều nay? Mà mẹ không nhìn thấy/ Chiến tranh qua rồi và mãi mãi con tin...”. Thông qua lá thư bằng sự tưởng tượng phong phú của người con hi sinh ở mặt trận nhưng vẫn như còn sống để trở về sau khi kết thúc chiến tranh và gặp lại những hình ảnh quen thuộc “Viên bi tròn vẫn lăn mãi qua sân/ Cần câu cũ buông vào từng kỷ niệm/ Cánh diều giấy trẻ con làng lại thả/ Tiếng sáo trăng tìm đến ngõ nhà mình” .. .
Tác phẩm gồm 16 khổ thơ, với điệp khúc “con đã về” lặp lại nhiều lần, nhưng không gây trùng lặp mà tạo nên nhịp điệu ám ảnh. Nhà thơ đã dâng tâm sức cho thơ với giọng điệu chậm dãi, vừa phải dẫn dắt người đọc theo từng cung bậc cảm xúc trong thơ, nhưng cũng để người đọc có khoảng suy ngấm bởi cảm xúc dồn nén và sắc thái riêng, nhất là cách xây dựng ý thơ, tứ thơ.
Đó không chỉ là vẻ đẹp riêng của một người mẹ có con là liệt sĩ, mà được nhà thơ khái quát thành hình ảnh chung của những Bà mẹ Việt Nam: luôn thủy chung, nhân hậu, tần tảo, giàu đức hy sinh trong những năm tháng chiến tranh đầy gian khó. Đồng thời, tác phẩm mang đến góc nhìn mới về hình ảnh người chiến sĩ và người mẹ Việt Nam trong chiến tranh: dù phải trải qua những mất mát to lớn, họ vẫn giữ vững niềm tin vào tương lai, toát lên vẻ đẹp nhân văn, nhân hậu.
Đặc biệt, bài thơ khắc họa rõ nét khí chất anh hùng của lớp thanh niên Việt Nam - luôn bản lĩnh, kiên trung, một lòng “tận trung với nước, tận hiếu với dân”, và vì thế trở nên bất tử trong ký ức dân tộc.

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và tác giải bài viết
Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến từng nhận xét: “Nguyễn Quang Thiều huy động được các yếu tố trữ tình và tự sự, bình luận trong thơ, tạo ra âm thanh sống động, tạo ra cơ hội tối đa cho sự tham gia của những mảng sống khác nhau.” Nhận định này phần nào lý giải sức hấp dẫn của “Thư gửi mẹ” - một bài thơ giàu chất điện ảnh, giàu liên tưởng và có sức lan tỏa cảm xúc mạnh mẽ.
Qua bài thơ “Thư gửi Mẹ”, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã gợi mở cho người đọc cảm nhận sâu sắc về không gian quê hương với hình bóng người mẹ già mòn mỏi chờ con. Tác phẩm đồng thời khắc họa đậm nét hình tượng người lính thời chiến - hào hùng, bi tráng - cùng tình mẫu tử thiêng liêng, bền chặt. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp ý nghĩa, nhắc nhở thế hệ hôm nay trân trọng, gìn giữ nền độc lập, tự do của dân tộc, để không còn những chia ly, hy sinh, mất mát; để những người mẹ không phải đợi chờ con trở về trong nỗi nhớ khắc khoải.
Nguyễn Xuân Hùng
baophutho.vn Thơ viết về Đền Hùng, về thời đại Hùng Vương, từ chữ Hán, chữ Nôm đến chữ Quốc ngữ, của các tác giả hữu danh hay khuyết danh, có thể ví như...
baophutho.vn Ngày 3/3 (tức Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ), xã Yên Trị đã tổ chức Lễ hội Hang Chùa - Chùa Hang xuân Bính Ngọ 2026, thu hút đông đảo cán bộ,...
baophutho.vn Tết nào mà chẳng là Tết! Vậy mà càng lớn lên, tôi càng thấy Tết ở làng mình nhạt dần cái vị ấm nồng năm cũ. Nếp nhà xưa vẫn đó, thịt lợn, bánh...
baophutho.vn Hơn 40 năm hoạt động trong ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng là hơn 40 năm nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Hải cầm máy ảnh đi khắp mọi miền Tổ quốc....
baophutho.vn Ông Lê Kim Thuyên, sinh năm 1938, trong một gia đình nghèo ở làng Quan Tử, xã Sơn Đông - nơi sinh ra Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn. Năm lên 8...
baophutho.vn Sáng 5/2, Chi hội Nhà báo Tạp chí Văn nghệ Đất Tổ tổ chức Đại hội khóa I, nhiệm kỳ 2026 - 2028.
baophutho.vn Tôi được trải nghiệm đời sống trong sinh thái núi rừng đúng nghĩa tại bản Sưng xã Cao Sơn, tỉnh Phú Thọ (huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình cũ) - nơi...