{title}
{publish}
{head}
Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải - Nguyên Trưởng phòng Văn nghệ - Đài PTTH Phú Thọ (nay là Báo và PTTH Phú Thọ) hiện nghỉ hưu sinh sống và sáng tác tại quê. Quan sát Nguyễn Hưng Hải, tôi luôn thấy ông chăm chỉ, linh hoạt, khéo léo và rất cần cù sáng tác.

Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải.
Cho đến nay Nguyễn Hưng Hải đã có một “gia tài” đáng nể với 32 tác phẩm đã in. Điều đáng nể hơn là, ông trung thành với lý tưởng, thần tượng của mình về lãnh tụ Hồ Chí Minh, về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và ông vẫn tiếp tục viết về đề tài về lãnh tụ của Đảng ta.
Nguyễn Hưng Hải gọi điện, báo tôi đến Hội Nhà văn Việt Nam nhận tập thơ mới của ông có tiêu đề “Người xa quê có nhớ làng” - NXB Hội Nhà văn cấp phép mới phát hành, và tôi đến nhận sách và đọc ngay bởi cuốn hút.
Tập thơ “Người xa quê có nhớ làng” của Nguyễn Hưng Hải làm tôi nhớ làng, với tư cách là người sinh ra, lớn lên ở làng và suy nghĩ về cộng đồng dân cư sau lũy tre làng, không gian văn hóa làng vốn trường tồn trong lịch sử. Làng trở thành ký ức, một thành tố của ký ức quê hương, ký ức dân tộc. Làng đi vào thơ, văn, âm nhạc, hội họa và nhiều loại hình văn học nghệ thuật khác.
Nhưng làng đã và đang biến đổi. Không xa nữa, làng chỉ còn nằm trong tâm thức, trong văn học, bởi nhiều làng sẽ được sáp nhập thành thôn. Sẽ không còn các biển “Làng văn hóa” mà thay vào đó là “Thôn văn hóa”.
“Người xa quê có nhớ làng” thực ra không phải là tên một bài thơ trong tập, được rút ra làm tên chung cho tập mà là một câu trong bài thơ. Đó là một câu hỏi. Đọc nó lên, tôi nhớ bao nhà thơ Việt Nam nhiều thế hệ, kể cả nhà thơ nước ngoài từng đắm đuối, lăn lóc với làng để lại nhiều tác phẩm có giá trị.

Tập thơ “Người xa quê có nhớ làng” của Nhà thơ Nguyễn Hưng Hải mới phát hành 2026.
Trong 38 bài thơ, không có bài thơ nào lấy tên thi phẩm là làng, nhưng nhân vật trữ tình, không gian nghệ thuật, biểu tượng nghệ thuật trong tập thuộc về làng. Đó là người thân, ngôi nhà, cánh đồng, cây lúa, hoa cỏ, bốn mùa... Điều dễ nhận thấy rằng, mạch cảm trong tập thơ lục bát này của Nguyễn Hưng Hải là hồn quê, hồn làng. Hay nói cách khác, người đọc nhận ra gốc gác, căn cước tâm hồn ông, qua tập thơ.
Nhà thơ R.Gamzatop (Liên Xô cũ), từng tuyên bố rằng, ông không đổi làng lấy bất cứ thứ gì. Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh (Đà Nẵng) từng có hai câu thơ trở thành “định đề” ký ức: “Ngày xưa tôi sống trong làng / Bây giờ làng sống trong tôi”.
“Đêm trong thành phố ếch kêu/ Ao chuôm chẳng có sao nhiều nỗi quê/ Tiếng con ếch gọi ta về/ Tháng năm buộc bụng tròn xoe đốc cày”, (Ếch kêu trong thành phố); “Tiếng con ếch gọi tìm đường / Vọng trong phố nỗi ly hương như mình”, qua hình ảnh nghệ thuật về con ếch, tiếng ếch, Nguyễn Hưng Hải cất lên nỗi mình. Đấy chính là “làng sống trong tôi”, như nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh từng viết.
Ngoài đời, Nguyễn Hưng Hải là người nhẹ nhàng. Giữa đám ông, ông thường chọn cho mình góc khuất, lặng lẽ quan sát, thấu cảm. Thơ không bao giờ cho phép ai viết ra nó dối lòng. Viết dối lòng, thơ “chết yểu” ngay trước khi đến bạn đọc. Vì thế, đọc tập thơ “Người xa quê có nhớ làng”, dễ nhận ra trong ông có một tôn giáo bất khả, đó là hiếu nghĩa. Thơ ông vì thế chở đầy luân lý.
Trong 13 bài thơ viết về người thân, có thơ viết cho cố (Cố tôi), viết cho bà hai bên nội, ngoại (Ai ru bà lúc bà cần lời ru, Thương ngoại), viết cho bố, mẹ (Bố tôi, Bố tôi đi tìm đồng đội, Mẹ và những con chim ngói); viết cho vợ, con trai, con dâu, con gái (Mình ơi, Nói với con trai, Nói với con dâu, Một mình đi giữa phố đông).
Gia đình Nguyễn Hưng Hải hiện lên trong những “tấc lòng” của ông thật gia phong, nề nếp; ở đó con người sống với nhau bằng tình thương, có trách nhiệm và nghĩa vụ vun vén tổ ấm. Đọc thơ Nguyễn Hưng Hải về đề tài người thân trong gia đình, thấy rằng, chỉ có tình thương mới xây đắp nên nhân nghĩa. Điều này cần thiết biết bao, bởi gia đình là thành tố cơ bản nhất của một cộng đồng dân cư, cộng đồng xã hội.
“Bàn tay người ấy con cầm / Bàn tay cha mẹ yên tâm đặt vào / Nhớ mang lại những ngọt ngào / Tặng hoa người ấy lúc nào cũng vui”...”Thay cha mẹ có bàn tay / Như bàn tay mẹ cái dây lạt mềm / Cùng con buộc bện chắc bền / Là cha mẹ thấy bình yên tuổi già”, (Nói với con trai). Đúng là đạo lý “nước mắt chảy xuôi”, bài thơ này Nguyễn Hưng Hải viết sau khi con trai lấy vợ với tất cả niềm vui, lắng lo của một người bố.
Có câu nói đã trở thành rất cũ: Lục bát là thể thơ hồn cốt của dân tộc. Tuy nhiên, nhận định này cũng tạo ra một thách thức, thơ lục bát “dễ làm” nhưng “khó hay”. Nói như nhà thơ, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trần Đăng Khoa: “Lục bát có thể đánh đắm sự nghiệp một nhà thơ”. Nói chung là “không đùa” được với “hồn cốt”.
Tôi cứ phân vân mãi, vì sao Nguyễn Hưng Hải lại chọn lục bát để chuyển tải những cảm xúc về làng, về người thân, về đạo nghĩa, luân lý? “Mẹ ru con lớn thành người / Có đo đâu cũng không ngoài lời ru”, (Tiếng Việt).
Lục bát, thể thơ thuần Việt, vốn phát triển từ tục ngữ, ca dao, trong những lời ru của bà, của mẹ thuở lọt lòng đã là lục bát. Nói như nhà nghiên cứu văn học, TS. Ngô Tự Lập thì đó là “điệu thức đưa nôi”. Không có ngôn ngữ nào trên thế giới giàu thanh điệu như tiếng Việt. Điều này lại thể hiện ở thơ lục bát.
Ở thể thơ này, những tiếng hiệp vần (tiếng cuối câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu câu bát, rồi tiếng cuối câu bát lại hiệp với tiếng cuối câu lục) thường mang thanh bằng, kết hợp bổng, biến hóa âm vực nên âm điệu thơ thanh thoát, du dương. Điều này, giúp chuyển tải được tình cảm thơ của tác giả.
Nguyễn Hưng Hải đã có những thảnh công về lục bát. “Thơ hay do nhiều nguyên nhân nhưng thể hiện rõ nhất ở tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà thơ. Nó là kết tinh của lao động sáng tạo”, (Phạm Quốc Ca).
“Anh đây cái áo bạc màu/ Cái khuy em đính còn lâu đứt t à / Là em cứ tự nghĩ ra / Còn anh đâu có nhiều hoa, lắm cành”, (Mình ơi). Những câu thơ, cặp lục bát trong bài thơ “Mình ơi”, cho thấy Nguyễn Hưng Hải những hình ảnh vừa logic, vừa phi logic, vừa hàm súc, đa nghĩa, giàu biểu cảm, tính nhạc... Đó là nỗ lực đáng ghi nhận.
Ngô Đức Hành
baophutho.vn Trong kho tàng văn học Việt Nam, hát ru là một phần gắn kết làm nên sự phong phú, đặc sắc, độc đáo của văn hoá Việt Nam. Đánh giá về hát ru,...
Cục Điện ảnh (Bộ VHTT&DL) phát động cuộc thi “Sáng tác kịch bản phim truyện, phim hoạt hình năm 2026” khuyến khích hoạt động sáng tác, phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ tác giả...
baophutho.vn Với con mắt nghệ thuật và tình yêu thiên nhiên sâu sắc, họa sĩ Hoàng Trúc (phường Vĩnh Yên) đã lựa chọn những vật liệu tưởng chừng bỏ đi như mo...
baophutho.vn (Nhân đọc tập thơ “Em lót thảm đợi anh”, NXB Hội Nhà văn, quý I năm 2026 của nhà thơ Hà Hồng Hạnh).
baophutho.vn Đêm muộn ở khu 4B, phường Vân Phú, không gian nhà riêng của tác giả thơ Lại Thị Việt Hà vẫn sáng ánh đèn. Đây vừa là nơi sinh sống, vừa là nơi...
baophutho.vn Phú Thọ - vùng đất cội nguồn dân tộc không chỉ giàu truyền thống lịch sử, mà còn là nơi nuôi dưỡng đời sống văn hóa tinh thần phong phú. Trong...
baophutho.vn Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (sinh năm 1957), quê ở Làng Chùa, xã Sơn Công, huyện Ứng Hòa (nay thuộc TP Hà Nội), hiện là Chủ tịch Hội Nhà văn...